|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/HSST
Ngày: 16/5/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hành.
- Ông Hoàng Văn Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Bà Mai Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
QUÁCH VĂN H, sinh năm 1985; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Quách Văn H và con bà Hứa Thị T; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Chị Phạm Thị H1, sinh năm 2005.
HKTT: Trung Chính, Xích Thố, Nho Quan, Ninh Bình.
Chỗ ở: Du Tràng, Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên.
Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Minh P, sinh năm 1985.
Địa chỉ: F M, phường V, quận H, Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 27/10/2023, chị Phạm Thị H1 (Sinh năm 2005; HKTT: thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình) nhờ hai anh rể là Nguyễn Văn V (Sinh năm 1989; HKTT: thôn H, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình) và Quách Văn H2 đi xe máy Honda SHmode màu xám đen, BKS 35N1-612.82 của H1 từ xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình lên nhà trọ của anh V tại số nhà C xóm C, thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội gửi sau đó, chị gái H1 là chị Phạm Thị H3 (Sinh năm 1998, HKTT: thôn H, xã M, huyện H, Thái Bình; là vợ của H2) sẽ liên hệ với anh V để lấy xe. Tối ngày 27/10/2023, chị H3 gọi điện nhờ anh V đưa xe máy ra Bến xe N cho chị H3. Do anh V mệt không mang xe đi được nên đã bảo H2 mang xe máy đưa cho chị H3. Khoảng 20 giờ cùng ngày, H2 lấy chiếc xe máy Honda SHmode màu xám đen, BKS 35N1-612.82 của H1 đi từ nhà trọ của anh V ở xã H điều khiển đến khu vực L, quận H, Hà Nội thì chị H3 gọi điện cho H4 nói chị H3 không ra lấy được xe và bảo H2 mang chiếc xe máy trên của H1 về để tại phòng trọ của anh V, chị H3 sẽ qua lấy sau. Tuy nhiên, H2 đã không đưa xe về mà lấy xe đi chơi bắn cá tại khu vực Hồ Đ, quận H, Hà Nội cùng Nguyễn Tiến M (Sinh năm 1983; HKTT: phường H, quận H, Hà Nội). Đến khoảng 01 giờ ngày 28/10/2023, H2 chơi bắn cá hết tiền nên hỏi vay M số tiền 5.000.000 đồng, M đồng ý cho H2 vay, không tính lãi, không viết giấy tờ vay. Sau đó, M chơi bắn cá cùng Huyên đến khoảng 04 giờ sáng cùng ngày rồi đi về còn H2 tiếp tục ngồi chơi bắn cá đến khoảng 12 giờ trưa ngày 28/10/2023 thì H2 bị thua hết tiền. Do cần tiền tiêu xài nên H2 nảy sinh ý định mang chiếc xe của chị H1 đi cầm cố. Huyên điều khiển chiếc xe Honda Shmode BKS 35N1-612.82 đến nhà M rủ M đi cầm cố chiếc xe máy của chị H1 để lấy tiền tiêu xài cá nhân. H2 nói với M chiếc xe máy là của em vợ H2, đã đồng ý cho H2 cầm cố để lấy tiền làm ăn nên M đồng ý đi cùng H2. Sau đó, H2 điều khiển xe máy Honda SHmode, BKS 35N1-612.82 đi cùng M đến cửa hàng cầm đồ của chị Trần Mai P1 (Sinh năm 1985; HKTT: V, H, Hà Nội) tại địa chỉ F M, phường V, quận H, Hà Nội để cầm cố chiếc xe. Huyên đưa giấy tờ chiếc xe máy Honda SHmode BKS 35N1-612.82 của H1 cho chị P1 thì chị P1 nói H2 đưa căn cước công dân nhưng H2 không mang theo căn cước công dân trong người nên M đã cho H2 mượn căn cước công dân để chị P1 làm thủ tục cầm cố xe cho H2. Chị P1 chụp lại căn cước công dân của M và viết giấy nhận cầm cố chiếc xe để cho H2 vay 20.000.000 đồng trong thời hạn 10 ngày với lãi suất 200.000 đồng rồi đưa cho H2 và M kí. Sau đó, chị P1 sử dụng tài khoản ngân hàng của chồng P1 là Nguyễn Hải Đ – số tài khoản 0838883533 – Ngân hàng M1 chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản 020061402481 – Nguyễn Tiến M – Ngân hàng S của M. Sau đó, H2 và M để chiếc xe lại cửa hàng cầm đồ rồi đi ra ngoài, H2 bảo M giữ lại 5.000.000 đồng tiền Huyên trả nợ cho M nên M đưa lại cho H2 15.000.000 đồng tiền mặt và M đi về. Huyên tiếp tục quay lại khu vực hồ Đ chơi bắn cá đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì tiêu hết số tiền 15.000.000 đồng trên. Sau đó, chị H1 có liên hệ với H2 để lấy xe thì H2 không nghe điện thoại, chị H1 mượn điện thoại người khác gọi thì H2 nghe máy và thừa nhận đã cầm cố chiếc xe trên của chị H1 tại cửa hàng C1 tại địa chỉ F M, phường V, quận H, Hà Nội và không có tiền để lấy lại chiếc xe. Chị H1 đã đến Công an xã H trình báo về sự việc và mang số tiền 20.000.000 đồng đến trả chị P1 để lấy lại chiếc xe.
Ngày 29/10/2023, chị Phạm Thị H1 đã tự nguyện giao nộp cho C - Hà quan điều tra 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SHmode màu xám đen, BKS 35N1-612.82 đã qua sử dụng, 01 giấy đăng ký xe mang tên Phạm Thị H1.
Cơ quan điều tra đã Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe Honda SHmode màu xám đen, BKS 35N1-612.82. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 172 ngày 18/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH mode biển số 35N1-612.82 đã qua sử dụng có giá 68.917.900 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Quách Văn H2 khai nhận hành vi như trên. Lời khai của H2 phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Tiến M, anh Nguyễn Văn V, chị Phạm Thị H1 và chị Phạm Thị H3 và các tài liệu Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKS-TT ngày 03 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Quách Văn H2 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Quách Văn H2 từ 26 đến 30 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về dân sự: Bị cáo phải trả chị Phạm Thị H1 số tiền 20.000.000 đồng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà: Bị cáo Quách Văn H2 giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.
Bị hại chị Phạm Thị H1 đề nghị bị cáo H2 phải bồi thường cho chị số tiền 20.000.000 đồng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Lợi dụng sự tin tưởng của anh Nguyễn Văn V và chị Phạm Thị H3, ngày 28/10/2023 sau khi được anh V giao cho Quách Văn H2 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SHmode BKS 35N1-612.82 của chị Phạm Thị H1 tại xã H, huyện T, Hà Nội để đưa cho chị H3 mang về cho chị H1, H2 đã mang chiếc xe máy trên đi cầm cố để vay tiền tiêu xài mà không được sự cho phép của chị H1, không có khả năng lấy lại tài sản. Trị giá xe Honda SHmode BKS 35N1-612.82 là 68.917.900 đồng.
Hành vi của các bị cáo Quách Văn H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.
[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang cho nhân dân. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý và động cơ vụ lợi cá nhân. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm trong đó có tội xâm phạm sở hữu, góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng, có bà nội và mẹ là người tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và bản thân bị cáo cũng đã có thời gian phục vụ trong quân đội nên có thể xem xét giảm nhẹ giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6]. Về vật chứng:
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SHmode màu xám đen, BKS 35N1-612.82, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của chị Phạm Thị H1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H1 cùng giấy đăng ký xe. Toà không xét.
[7] Về dân sự: Đối với việc chị H1 yêu cầu Quách Văn H2 phải trả lại chị số tiền 20.000.000 đồng chị đã bỏ ra để lấy lại chiếc xe bị cáo cầm cố, bị cáo chưa trả tiền cho chị H1 nên việc chị H1 yêu cầu bị cáo trả số tiền này là có căn cứ, cần chấp nhận.
Chị Trần Mai P1 đã nhận 20.000.000 đồng H2 vay do chị H1 trả nên không có yêu cầu gì về dân sự. Toà không xét.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với anh Nguyễn Tiến M giúp H2 mang chiếc xe của H1 đi cầm cố nhưng không biết việc H2 mang chiếc xe trên cầm cố mà không được sự cho phép của H1 nên Cơ quan điều tra không xử lý. Toà không xét.
Đối với chị Trần Mai P1: Bản thân P1 không biết xe máy nhãn hiệu Honda SHmode màu xám đen, BKS 35N1-612.82 là do vi phạm pháp luật mà có. P1 có mở cửa hàng đăng ký hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ. Tuy nhiên do xe máy Huyên mang đến không chính chủ nên P1 không cầm đồ mà chỉ cho H2 vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 200.000 đồng trong vòng 10 ngày. Do đó, không đủ căn cứ xử lý đối với Trần Mai P1. Toà không xét.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[8].Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Quách Văn H2 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[1]. Xử phạt: Bị cáo Quách Văn H2 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.
[2]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Quách Văn H2 phải trả chị Phạm Thị H1 số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sựtrừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[3]. Về án phí: Bị cáo Quách Văn H2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi họ cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Lê Hương Giang |
Bản án số 81/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 81/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín dụng chiếm đoạt tài sản
