Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-PT

Ngày: 04/12/2024

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và ông Lê Trúc Lâm;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm, Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Quách Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

Bị cáo có kháng cáo: Quách Văn T (Tên gọi khác: T1), sinh ngày 28/7/1988 tại huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Cha: Quách Văn D, sinh năm 1950 và mẹ: Quách Thị T2, sinh năm 1957; A, chị, em: có 03 chị; Vợ: Nguyễn Thị Thu T3, sinh năm: 1994; Con: có 02 con: lớn sinh năm 2018; nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2024, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Nguyễn Tâm H, Văn phòng L5 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P; Địa chỉ: A T, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Ngoài ra còn có bị cáo Quách Văn C không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng từ đầu năm 2023 đến tháng 01/2024, Quách Văn T từ thành phố Hà Nội vào tỉnh Phú Yên thuê phòng trọ tại phường I, thành phố T để thực hiện cho vay tiền với lãi suất cao hơn mức quy định trong giao dịch dân sự, trên địa bàn huyện S, thị xã Đ và huyện S, tỉnh Phú Yên; để thuận lợi trong việc cho vay tiền, khoảng tháng 10/2023, T thuê và cung cấp tiền cho Quách Văn C thực hiện việc đi cho vay và thu tiền hằng ngày; T cung cấp xe mô tô, điện thoại và trả tiền công cho C 5.000.000 đồng/tháng. Tuyển in tờ rơi cho vay tiền ghi số điện thoại 0906.401.xxx của T để rải ở những khu dân cư, chợ để người có nhu cầu vay liên hệ. Khi có người cần vay tiền gọi điện cho T và cung cấp thông tin họ tên, địa chỉ, công việc (thẻ Căn cước công dân, giấy phép lái xe...). Tùy nhu cầu của người vay, T và C sẽ cung cấp các gói vay từ 3.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng và phí vay theo từng gói từ 200.000 đồng/kỳ đến 1.000.000 đồng/kỳ, hình thức trả góp, tính tiền lãi cộng với tiền gốc rồi chia đều để người vay trả theo ngày, với lãi suất từ 243.33%/năm đến 608.33%/năm; hình thức cấp vốn và trả góp theo ngày qua tài khoản của T quản lý hoặc nhận tiền trực tiếp.

Đối với Quách Văn T: Từ đầu năm 2023 đến tháng 01/2024, T đã trực tiếp và chỉ đạo Quách Văn C cho 23 người trên địa bàn huyện S, Sông H và thị xã Đ vay với tổng số tiền 1.185.000.000 đồng, lãi suất từ 243.33%/năm đến 608.33%/năm, thu lợi bất chính với tổng số tiền 299.856.777 đồng, cụ thể đối với từng người vay tiền như sau: Bà Đàm Thị K vay 03 kỳ, với tổng số tiền 35.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 10.020.549 đồng. Bà Đỗ Thị Đ vay 06 kỳ, với tổng số tiền 42.000.000 đồng, lãi suất 347.62%/năm, thu lợi bất chính 13.109.589 đồng. Ông Trần Xuân L vay 01 kỳ, với số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 243.33%/năm, thu lợi bất chính 1.167.808 đồng. Bà Phạm Thị Mộng D1 vay 4 kỳ, với tổng số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 243.33%/năm, thu lợi bất chính 4.471.233 đồng. Bà Trần Thị D2 vay 05 kỳ, với tổng số tiền 32.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 8.961.644 đồng. Bà Trần Thị Kim N vay 03 kỳ, với tổng số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 282,58%/năm, thu lợi bất chính 8.190.411 đồng. Bà Hồ Thị N1 vay 14 kỳ, với tổng số tiền 140.000.000 đồng, lãi suất 243,33%/năm, thu lợi bất chính 32.698.630 đồng. Bà Trần Thị Tuyết N2 vay 15 kỳ, với tổng số tiền 75.000.000 đồng, lãi suất 243,33%/năm, thu lợi bất chính 17.517.123 đồng. Bà Phạm Thị V vay 10 kỳ, với tổng số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 243.33%/năm, thu lợi bất chính 11.178.082 đồng. Bà Trần Thị Minh T4 vay 20 kỳ, với tổng số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 47.260.274 đồng. Bà Nguyễn Thị H1 vay 10 kỳ, với tổng số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 608.33%/năm, thu lợi bất chính 11.090.959 đồng. Bà Phan Thị Ngọc T5 vay 12 kỳ, với tổng số tiền 205.000.000 đồng, lãi suất 243.33%/năm, thu lợi bất chính 46.136.301 đồng. Bà Trần Thị C1 vay 07 kỳ, với tổng số tiền 35.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 9.264.384 đồng. Bà Trần Thị X vay 04 kỳ, với tổng số tiền 12.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 3.435.616 đồng. Bà Nguyễn Thị Mỹ D3 vay 7 kỳ, với tổng số tiền 35.000.000 đồng, lãi suất 282.58%/năm, thu lợi bất chính 9.905.479 đồng. Bà Phạm Thị V1 vay 07 kỳ, với tổng số tiền 47.000.000 đồng, lãi suất từ 365%/năm đến 421.15%/năm, thu lợi bất chính 14.159.389 đồng. Bà Trần Thị L1 vay 08 kỳ, với tổng số tiền 40.000.000 đồng, với lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 10.695.890 đồng. Bà Nguyễn Thị Thanh T6 vay 12 kỳ, với tổng số tiền 60.000.000 đồng, lãi suất 282.58%/năm, thu lợi bất chính 15.805.303 đồng. Bà Trần Thị Ngọc L2 vay 08 kỳ, với tổng số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 8.165.179 đồng. Bà Nguyễn Thị L3 vay 01 kỳ, số tiền 3.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 708.904 đồng. Bà Huỳnh Thị L4 vay 01 kỳ, số tiền 3.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 708.904 đồng. Bà Nguyễn Thị Mỹ Ý vay 6 kỳ, với tổng số tiền 36.000.000 đồng, lãi suất 343.41%/năm, thu lợi bất chính 11.369.510 đồng. Bà Đỗ Thị Ngọc T7 vay 02 kỳ, với tổng số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 243.33%/năm, thu lợi bất chính 1.835.616 đồng.

Đối với Quách Văn C: Từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 01/2024, theo chỉ đạo của T, C đã trực tiếp cho 14 người trên địa bàn huyện S và thị xã Đ vay với tổng số tiền 144.000.000 đồng, lãi suất từ 243.33%/năm đến 608.33%/năm, thu lợi bất chính với tổng số tiền 39.429.178 đồng, cụ thể đối với từng người vay tiền như sau: Bà Trần Thị Minh T4 vay 01 kỳ, với số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 2.363.014 đồng. Bà Phan Thị Ngọc T5 vay 02 kỳ, với tổng số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 243.33%,/năm, thu lợi bất chính 7.006.850 đồng. Bà Đàm Thị K vay 01 kỳ, số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 2.863.014 đồng. Bà Nguyễn Thị H1, vay 02 kỳ, với tổng số tiền 6.000.000 đồng, lãi suất 608.33%/năm, thu lợi bất chính 2.334.246 đồng. Ông Trần Xuân L vay 01 kỳ, với số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 243.33%/năm, thu lợi bất chính 1.167.808 đồng. Bà Hồ Thị N1, vay 01 kỳ số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 243.33%/năm, thu lợi bất chính 2.335.616 đồng. Bà Đỗ Thị Đ vay 02 kỳ, với tổng số tiền 14.000.000 đồng, lãi suất 347,62%/năm, thu lợi bất chính 4.369.864 đồng. Bà Trần Thị L1, vay 02 kỳ, với tổng số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 2.863.014 đồng. Bà Trần Thị Ngọc L2 vay 03 kỳ, với tổng số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 282.58%/năm, thu lợi bất chính 4.095.204 đồng. Bà Nguyễn Thị Thanh T6 vay 01 kỳ, với số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 282,58%/năm, thu lợi bất chính 1.365.068 đồng. Bà Phạm Thị V1 vay 01 kỳ, với số tiền 8.000.000 đồng, lãi suất 421,15%/năm, thu lợi bất chính 2.686.027 đồng. Bà Trần Thị C1 vay 01 kỳ, với số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 1.431.507 đồng. Bà Trần Thị X vay 02 kỳ, với tổng số tiền 6.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, thu lợi bất chính 1.717.808 đồng. Bà Nguyễn Thị Mỹ D3 vay 02 kỳ, với tổng số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 282,58%,/năm, thu lợi bất chính 2.830.136 đồng. Ngoài trực tiếp cho 14 người như trên vay tiền, trong tháng 11/2023, C đã giúp T đi thu tiền vay của bà Nguyễn Thị Mỹ Ý 04 lần với tổng số tiền 1.000.000 đồng, giúp T thu lợi bất chính 251.365 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HSST ngày 06/9/2024 của TAND huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên đã tuyên bố bị cáo Quách Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quách Văn T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/02/2024.

Phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo Quách Văn T 40.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt đối với bị cáo Quách Văn C; phần các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/9/2024, bị cáo Quách Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Quách Văn T nộp tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm là 40.000.000đ theo biên lai thu tiền số: 0001795 ngày 29.11.2024 và nộp trước sung công quỹ nhà nước theo quyết định của bản án sơ thẩm số tiền 100.000.000đ theo biên lai thu tiền số: 0001796 ngày 29.11.2024 tại Chi cục THADS huyện S, tỉnh Phú Yên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên, có 06 người vay khai kỳ hạn vay nhiều hơn nhưng bị cáo xác định khoản tiền vay gốc đúng như bản án sơ thẩm, xin HĐXX xem xét bị cáo đã rất ăn năn hối cải, mức án sơ thẩm tuyên quá nặng đối với bị cáo, xin được giảm nhẹ. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt do bị cáo đã rất ăn năn hối cải, sau khi có bản án sơ thẩm, bị cáo đã nộp thêm số tiền tổng cộng 140.000.000đ tiền phạt bổ sung và khắc phục hậu quả cho hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới của bị cáo. Ngoài ra, qua đối chiếu các tài liệu về khoản tiền gốc cho vay, các kỳ vay đối với 06 người liên quan Phạm Thị Ngọc T8, Trần Thị L1, Nguyễn Thị Thanh T6, Trần Thị Ngọc L2, Nguyễn Thị H1, Trần Thị Minh T4 là chưa thống nhất trùng khớp, tuy nhiên bị cáo đã thừa nhận toàn bộ số tiền cho vay như bản án sơ thẩm xét xử nên HĐXX xem xét bị cáo đã rất thành khẩn khai báo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo quá cao so với các bản án khác về cùng loại tội phạm để giảm nhẹ cho bị cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm c, Khoản 1, Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo, áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Thời gian khoảng đầu năm 2023 đến tháng 01/2024, trên địa bàn huyện S, huyện S và thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, Quách Văn T đã trực tiếp cho 23 người gồm: Đàm Thị K, Đỗ Thị Đ, Trần Xuân L, Phạm Thị Mộng D1, Trần Thị D2, Trần Thị Kim N, Hồ Thị N1, Trần Thị Tuyết N2, Phạm Thị V, Nguyễn Thị H1, Phan Thị Ngọc T5, Trần Thị Minh T4, Trần Thị C1, Trần Thị X, Nguyễn Thị Mỹ D3, Phạm Thị V1, Trần Thị Ngọc L2, Nguyễn Thị Thanh T6, Trần Thị L1, Nguyễn Thị L3, Huỳnh Thị L4, Nguyễn Thị Mỹ Ý, Đỗ Thị Ngọc T7 vay nhiều kỳ với tổng số tiền 1.185.000.000 đồng, lãi suất từ 243.33%/năm đến 608.33%/năm, thu lợi bất chính với tổng số tiền 299.856.777 đồng; T cung cấp tiền để Quách Văn C – là người làm thuê cho T từ thời gian tháng 10/2023 đến tháng 01/2024 để C cho 14 người vay (trong số 23 người Tuyển cho vay) với tổng số tiền 144.000.000 đồng, lãi suất từ 243.33%/năm đến 608.33%/năm và thuê C đi thu tiền vay của bà Nguyễn Thị Mỹ Ý 04 lần, tổng số tiền Chiến giúp T thu lợi bất chính là 39.680.543 đồng. C đồng phạm với T từ thời gian tháng 10/2023 đến tháng 01/2024 với số tiền thu lợi bất chính 39.680.543 đồng. Hành vi của bị cáo cho vay với mức lãi suất hơn gấp 05 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính trên 100.000.000 đồng, do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Quách Văn T, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về hoạt động tín dụng, cụ thể là xâm phạm trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Số tiền bị cáo T cho vay là 1.185.000.000 đồng, lãi suất từ 243.33%/năm đến 608.33%/năm, thu lợi bất chính với tổng số tiền 299.856.777 đồng. Khi lượng hình cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giai đoạn sơ thẩm bị cáo T đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 100.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001760 ngày 22/5/2024 và Biên lai thu tiền số 0001770 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ này nhưng tuyên mức án phạt đối với bị cáo có phần quá nghiêm khắc. Sau khi có bản án sơ thẩm, bị cáo có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đã nộp tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm là 40.000.000đ theo biên lai thu tiền số: 0001795 ngày 29.11.2024 và nộp trước sung công quỹ nhà nước theo quyết định của bản án sơ thẩm số tiền 100.000.000đ theo biên lai thu tiền số: 0001796 ngày 29.11.2024 tại Chi cục THADS huyện S, tỉnh Phú Yên, đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ thêm một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

[3] Bị cáo Quách Văn T kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 355; Điểm c, Khoản 1, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quách Văn T – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

    - Áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quách Văn T 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/02/2024).

    Phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo Quách Văn T 40.000.000 đồng (đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số: 0001795 ngày 29.11.2024 tại Chi cục THADS huyện S, tỉnh Phú Yên)

  2. Về số tiền bị cáo Quách Văn T đã nộp khắc phục hậu quả đối với vụ án tại cấp phúc thẩm: Tiếp tục tạm giữ số tiền 100.000.000₫ theo biên lai thu tiền số: 0001796 ngày 29.11.2024 tại Chi cục THADS huyện S, tỉnh Phú Yên để đảm bảo thi hành án.
  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Quách Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - TAND h. Sơn Hòa (3);
  • - NTG Công an h. Sơn Hòa;
  • - CQ CSĐT h. Sơn Hòa;
  • - VKSND h. Sơn Hòa;
  • - Chi cục THADS h. Sơn Hòa;
  • - P. KTNV- THAHS; Bị cáo, NTGTT, Lưu THS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Ngọc Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 81/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BC KC XIN GIẢM NHẸ HP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger