|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HS-ST Ngày 30 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thụ
Ông Nguyễn Hữu Huân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thuỷ - Kiểm sát viên;
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 13/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Phạm Thị C và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
* Bị hại: Nguyễn Thị H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị C, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 29/4/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe đạp điện màu đỏ đen (xe không có biển kiểm soát) đi đến nhà anh Bùi Văn C1 ở thôn Đ, xã T, huyện L chơi. Đến nơi T thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu nâu đen BKS 98B1-946.80 của chị Nguyễn Thị H (là vợ của anh C1) đang dựng ở góc sân gần cửa bếp, cốp dưới yên xe không khóa. Quan sát xung quanh không thấy có người, T tiến đến lật yên xe lên thì thấy trong cốp xe có 01 mũ bảo hiểm úp vào 01 túi nilon màu vàng xanh (loại túi đựng áo mưa), bên trong túi nilon có nhiều đồ đạc nên T nảy sinh ý định lấy trộm chiếc túi trên. T cầm túi nilon cất vào cốp xe đạp điện của T ở gần đó và đóng cốp yên xe máy của chị H lại, sau đó T đi vào trong nhà ngồi chơi với anh C1. Ngồi chơi một lúc thì T nói với anh C1 đi mua mấy lon bia, T điều khiển xe đạp điện đi đến bãi rác thuộc thôn T, xã T, huyện L. Tại đây, T lấy túi nilon ra giấu vào trong túi rác rồi quay lại nhà anh C1 ăn cơm uống rượu. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T đi từ nhà anh C1 đến bãi rác lấy túi nilon đã giấu ở đó ra kiểm tra thì thấy bên trong có 03 chiếc ví, trong đó 02 chiếc ví đựng các loại giấy tờ gồm 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 giấy đăng ký xe mô tô tất cả đều mang tên Nguyễn Thị H; còn 01 chiếc ví bên trong có 01 sợi dây chuyền vàng, kiểu hoa thị, loại vàng tây 10K, bị đứt làm hai đoạn, 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và nhiều tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng và 100.000 đồng. T lấy tiền và dây chuyền vàng đút vào túi quần bên phải, còn giấy tờ và 03 chiếc ví thì Thanh đút vào túi nilon vứt ở bãi rác. Sau khi lấy được tài sản, T đi xe đạp điện về nhà rồi bỏ tiền ra kiểm đếm được số tiền 7.000.000 đồng, T xác định trên đường từ bãi rác về nhà đã bị rơi mất một số tiền. T bắt xe ôm đi đến ngã tư T, thị trấn Đ, huyện L vào cửa hàng vàng bán sợi dây chuyền vàng được số tiền 3.080.000 đồng. Sau đó T mua 01 chiếc điện thoại di động hết 2.300.000 đồng, mua 01 củ sạc hết 100.000 đồng, mua 01 thẻ nạp điện thoại hết 100.000 đồng; trả nợ anh Nguyễn Văn T1 số tiền 1.500.000 đồng để chuộc lại chiếc xe mô tô Dream, biển số 98H1-6683; trả nợ anh Hoàng Văn H1 số tiền 2.700.000 đồng; cho anh Bùi Văn C1 vay số tiền 1.000.000 đồng. Số tiền còn lại T đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 30/4/2024, chị H phát hiện bị mất tài sản đựng trong nilon để trong cốp xe mô tô gồm 03 chiếc ví da, bên trong 03 chiếc ví có 17.000.000 đồng, 01 sợi dây chuyền vàng bị đứt làm hai đoạn và một số giấy tờ. Chị H làm đơn trình báo về việc bị mất trộm tài sản. Cùng ngày 30/4/2024 Nguyễn Văn T đến Công an xã T, huyện L đầu thú và giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu HAMCO, loại Dream, biển số 98H1-6683; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A05 màu xanh đen; 01 sạc pin điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng.
Theo chỉ dẫn của Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nơi tập hợp rác sinh hoạt thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang: 01 túi nilon màu xanh vàng (loại túi đựng áo mưa) bên trong có 01 chiếc ví da màu xám, loại ví nữ có khóa màu vàng trên ví, khoá có chữ “D Derby” bên trong ví không có tài sản, giấy tờ gì; 01 chiếc ví da màu đen, loại ví nam gấp, trên ví có mác “POLO GRAND USA” bên trong có 01 căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe hạng A1; 01 thẻ bảo hiểm y tế; 01 đăng ký xe mô tô tất cả đều mang tên Nguyễn Thị H; 01 chiếc ví da màu xám nâu, loại ví nữ có khóa màu vàng, trên ví có ký hiệu “CG” bên trong không có tài sản, giấy tờ gì.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KL- HĐĐG ngày 06/5/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 dây chuyền bằng kim loại (loại vàng tây 10K), bị đứt làm hai đoạn có khối lượng 01 chỉ, trị giá là 3.050.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL- HĐĐG ngày 03/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 ví da màu xám, loại ví nữ có khóa màu vàng, trên ví và khóa có chữ “D Derby”, ví đã qua sử dụng, ước tính giá trị còn lại là 30%, thành tiền là 150.000đồng * 30% = 45.000 đồng; 01 ví da màu đen, loại ví nam, gấp, trên ví có mác “POLO GRAND USA”, ví đã qua sử dụng, ước tính giá trị còn lại là 30%, thành tiền là 150.000đồng * 30% = 30.000 đồng; 01 ví da màu xám, loại ví nữ có khóa màu vàng, trên ví có ký hiệu “CG”, ví đã qua sử dụng, ước tính giá trị còn lại là 30%, thành tiền là 120.000đồng * 30% = 40.000 đồng. Tổng giá trị 03 chiếc ví là 115.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định người mua sợi dây chuyền vàng của T, người bán điện thoại và phụ kiện kèm theo cho T, những người được T trả nợ, cho vay đều không biết T trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Ngày 05/5/2024 chị Phạm Thị C giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc xe đạp điện màu đỏ đen, số máy RL9YADHNAGAED 1586, số khung: 48Y550W0116001573.
Giai đoạn điều tra vụ án, chị Phạm Thị C (là vợ của T) đã bồi thường cho chị H số tiền 20.050.000 đồng. Chị H đã nhận tiền và không yêu cầu T phải bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 10 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: Bị cáo nhất trí với nội dung bản Cáo trạng; bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội.
- Bị hại là chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị đã được nhận lại 03 chiếc ví và các giấy tờ trong ví; giai đoạn điều tra chị Phạm Thị C là vợ bị cáo đã bồi thường cho chị số tiền 20.050.000 đồng, chị không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nữa. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 - 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam; miễn phạt bổ sung;
+ Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại chị Phạm Thị C 01 chiếc xe đạp điện màu đỏ đen, số máy RL9YADHNAGAED 1586, số khung 48Y550W0116001573. Trả lại Nguyễn Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu HAMCO, loại Dream, biển số 98H1-6683; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 màu xanh đen; 01 sạc pin điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng.
+ Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo Nguyễn Văn T nhất trí với lời luận tội và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên; bị cáo không tự bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì. Nói lời sau cùng bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận về hành vi của mình; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T, lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 29/4/2024, bị cáo Nguyễn Văn T đi đến nhà chị Nguyễn Thị H chơi, phát hiện thấy xe mô tô dựng ở sân không khoá cốp, xung quanh không có người, T đã lấy trộm 01 túi ni lon màu vàng xanh bên trong có 03 chiếc ví, trong đó 02 chiếc ví đựng giấy tờ, 01 chiếc ví đựng tiền và 01 sợi dây chuyền vàng bị đứt làm hai đoạn; T đem ra bãi rác thuộc thôn T, xã T cất giấu ở đó; T tiếp tục quay lại nhà chị H ngồi ăn uống với anh Bùi Văn C1 (là chồng chị H). Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày T đi đến bãi rác lấy toàn bộ tiền và sợi dây chuyền vàng đút vào túi quần, còn 03 chiếc ví và các loại giấy tờ Thanh đút vào túi ni lon giấu ở bãi rác. Khi về đến nhà T bỏ tiền ra đếm được khoảng 7.000.000 đồng. Sau đó T đem bán sợi dây chuyền vàng, đem tiền đi trả nợ một số nơi và chi tiêu cá nhân hết. Chị H xác định số tiền mặt chị để trong ví bị T trộm cắp là 17.000.000 đồng; bị cáo T xác định khi đút tiền vào túi quần bị cáo không bó buộc nên trong khi di chuyển đã bị rơi mất một phần. Như vậy, có cơ sở kết luận bị cáo T đã trộm cắp tài sản của chị H 01 sợi dây chuyền vàng trị giá 3.050.000 đồng, 03 chiếc ví trị giá 115.000 đồng, số tiền đựng trong ví là 17.000.000 đồng; cộng = 20.165.000₫ (Hai mươi triệu, một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
[3] Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn T là lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị H, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội danh trên theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá thủ đoạn phạm tội và các tình tiết để quyết định hình phạt thấy:
Bị cáo Nguyễn Văn T đã lợi dụng sự sơ hở của chị Nguyễn Thị H trong việc quản lý, bảo vệ tài sản; sau khi chiếm đoạt được tài sản bị cáo đã nhanh chóng đem đi cất giấu rồi tiếp tục quay lại nhà chị H ngồi chơi, ăn uống với anh Bùi Văn C1 (là chồng chị H) để tránh bị nghi ngờ. Chứng tỏ bị cáo rất gan lỳ, thách thức, coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường mọi người xung quanh.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Văn T luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và bị cáo đồng ý; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có
Căn cứ vào thủ đoạn phạm tội và giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta. Song, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; vì vậy, hình phạt tù giành cho bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp với chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự, vật chứng:
Giai đoạn điều tra đã thu giữ được 01 túi ni lon màu vàng xanh bên trong đựng 03 chiếc ví, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 đăng ký xe mô tô; Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại những đồ vật, giấy tờ trên cho chị Nguyễn Thị H. Chị Phạm Thị C là vợ bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường cho chị H số tiền 20.050.000 đồng, chị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nữa. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HAMCO biển số 98H1- 6683, 01 xe đạp điện màu đỏ đen, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A05, 01 sạc pin điện thoại: Xét thấy đã sử dụng xe đạp điện làm phương tiện đi cất giấu tài sản trộm cắp, nhưng xe đạp điện này do chị Phạm Thị C mua cho con để đi học nên không tịch thu mà trả lại cho chị C. T đã dùng tiền phạm tội mà có đem đi trả nợ, chuộc xe mô tô, mua điện thoại và củ sạc pin; do gia đình T đã bồi thường đầy đủ cho bị hại nên cần trả lại cho T những tài sản trên.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 30/4/2024).
2- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại chị Phạm Thị C 01 xe đạp điện màu đỏ đen, số máy RL9YADHNAGAED 1586, số khung 48Y550W0116001573.
- Trả lại Nguyễn Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu HAMCO, loại Dream, biển số 98H1-6683; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 màu xanh đen; 01 sạc pin điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng.
Những vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
3- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt, bị hại có mặt đều có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án xét xử vắng mặt./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Thái |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T trộm cắp tài sản trị giá 20.165.000 đồng.
