TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/HS-ST
Ngày : 29 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Bùi Anh Tấn;
- Ông Trương Thành Tuấn.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Để - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Hoàng M, sinh năm 1986; quê quán: An Giang; nơi cư trú: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 07/12; nghề nghiệp: không; con ông Phan Văn A và bà Trần Thị D, chưa có vợ, con;
Quá trình nhân thân:
- Ngày 03/03/2009, Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản.
- Ngày 28/3/2016, Toà án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng.
- Ngày 19/11/2018, Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 16 tháng.
- Tiền án: Ngày 26/10/2021, Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm 09 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 06/4/2024.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2024 cho đến nay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Phan Văn A, sinh năm 1957; nơi cư trú: Số A, tổ A, Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bà Trần Thị D, sinh năm 1952; nơi cư trú: Số A, tổ A, Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người làm chứng: Nguyễn Huy K, Nguyễn Văn L, Phan Thành N.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt; người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 31/07/2024, Đ - Kinh tế - Ma túy Công an huyện C, tỉnh An Giang kết hợp Công an xã A tuần tra trên Quốc lộ I. Khi đến khu vực tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang phát hiện Phan Hoàng M điều kiển xe gắn máy biển số 67SA-1344 chạy trên đường có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Phan Hoàng M không chấp hành, Tổ công tác mời về trụ sở Công an xã A làm việc, khi kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của M có 02 bọc nilon trong suốt một đầu có rãnh khóa viền màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng; 03 ống kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tím. Khám xét chỗ ở của M tại khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang phát hiện trong phòng ngủ của M có 04 ống kim tiêm đã sử dụng.
Kết luận giám định số 1086/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A, kết luận:
- Mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy, loại: Heroin (Heroine), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng: 0,8180g (không phẩy tám một tám không gam).
- Mẫu M2 gửi đến giám định là ma túy, loại: Heroin (Heroine), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng: 0,8998g (không phẩy tám chín chín tám gam).
- Mẫu M3 gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 0,0925g (Không phẩy không chín hai năm gam).
Cáo trạng số 77/CT-VKSCT ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện châu T truy tố bị cáo Phan Hoàng M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận, sáng ngày 31/7/2024 bị cáo điều khiển xe gắn máy biển số 67SA-1344 từ nhà đến thành phố C, tỉnh An Giang mua ma túy sử dụng. Bị cáo mua của một người phụ nữ (không biết tên, địa chỉ) với số tiền 1.100.000 đồng mua H và 50.000 đồng mua ma túy đá. Trên đường về khi đến địa phận xã A, huyện C thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Trong phần tranh luận, bị cáo xin được nhận lại điện thoại OPPO mà cơ quan điều tra thu giữ, không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ông Phan Văn A, bà Trần Thị D cho biết, xe gắn máy biển số 67SA-1344 là của ông, bà mua của người khác, mua theo hình thức sang tay (không có giấy tờ) với số tiền 2.500.000 đồng, cách nay khoảng 03 năm để làm phương tiện đi lại và chạy xe ôm. Ông, bà không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy. Ông A, bà D xin được nhận lại xe để có phương tiện chạy xe ôm sinh sống.
Trong phát biểu luận tội, Kiểm sát viên trình bày:
Xét lời nhận tội của của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng cũng như vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu, nguồn chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, khẳng định cáo trạng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Về hình phạt chính, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 53 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp và thuộc thành phần lao động nghèo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, giao trả xe gắn máy biển số 67SA-1344 cho ông A, bà D; giao trả điện thoại di động hiệu OPPO cho bị cáo do không liên quan đến tội phạm; tịch thu tiêu hủy đối với lượng ma túy đã thu giữ (vật cấm lưu hành) cùng 01 con dao xếp và 07 ống kim tiêm.
Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành xác minh, truy tìm. Khi nào tìm được sẽ điều tra làm rõ, xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nên không đề cập xem xét.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng người làm chứng vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người làm chứng và những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của những người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung, đối chiếu lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa với nội dung thể hiện tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 31/7/2024, Kết luận giám định số 1086/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A, Biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 31/7/2024 kèm tập bản ảnh hiện trường, lời khai của những người làm chứng, vật chứng được thu giữ cùng những nguồn chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp nhau về thời gian, địa điểm và diễn biến của sự việc như nội dung vụ án đã nêu. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 31/07/2024, tại khu vực tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang, bị cáo Phan Hoàng M đã có hành vi cất giấu 02 bọc nilon bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng, tất cả được giám định là ma túy loại Heroin có khối lượng 1,7178 gam và ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,0925 gam, với mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phát hiện và bắt quả tang.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm trực tiếp quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nên đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người.
[5] Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Ngày 26/10/2021, bị cáo Phan Hoàng M bị Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm 09 tháng tù về tội cướp giật tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 06/4/2024, chưa được xóa án tích nên với lần phạm tội này là thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo trình độ văn hóa thấp, hạn chế trong nhận thức pháp luật nên có xem xét các tình tiết giảm nhẹ này trong quyết định hình phạt đối với bị cáo như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Bị cáo không có nghề nghiệp, thuộc thành phần lao động nghèo, xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên.
[7] Xử lý vật chứng:
- Đối với lượng ma túy đã thu giữ (vật cấm lưu hành), 01 con dao xếp và 07 ống kim tiêm không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe gắn máy biển số 67SA-1344 là tài sản thuộc sở hữu của ông A, bà D, không liên quan đến tội phạm, xét giao trả lại cho ông A, bà D.
- Đối với điện thoại di động hiệu OPPO là tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm mà bị cáo thực hiện, xét giao trả lại cho bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Hoàng M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 53 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phan Hoàng M: 03 (ba) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 31/7/2024).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì được niêm phong (vụ số: 1086/KL-KTHS ngày 05/8/2024); 01 con dao xếp; 07 ống kim tiêm.
- Trả lại cho ông Phan Văn A và bà Trần Thị D 01 xe gắn máy biển số 67SA-1344, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Phan Hoàng M 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, đã qua sử dụng.
(Đặc điểm theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành).
Căn cứ vào Điều 98, Điều 99, Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phan Hoàng M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tâm |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
