|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 81/2024/HS-ST Ngày 13-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phát To
- Ông Hồ Thanh Trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Panal - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại Nhà Văn hóa thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
- Trần Văn T; Tên gọi khác: Không có, sinh năm: 1990, tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn S, sinh năm 1961, đã chết, và bà Lê Thị P, sinh năm 1959; Bị cáo chưa có vợ, con; có 01 người em sinh năm 1992; Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án: Ngày 25/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Gang xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và ngày 08/3/2021 bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 18 tháng 6 năm 2018 bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thể hiện tại Quyết định số 16/2018/QĐ-TA, ngày 17/7/2020 bị Công an phường H, quận C, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi “trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 002661/QĐ-XPVPHC. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01 tháng 8 năm 2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965, địa chỉ: Số A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
Đoàn Minh D, sinh năm 1966, địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Danh H, sinh năm 1959, địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
Lê Ngọc T2, sinh năm 1987, địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 14/6/2024, bà Nguyễn Thị T1 đang nằm tại phòng khách trong nhà toạ lạc tại đường số A, khu dân cư Tây Đô E thuộc ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C20 màu đen xám. Lúc này, bị cáo Trần Văn T đi bộ từ nhà bị cáo qua khu dân cư Tây Đô E để tìm bạn sử dụng ma tuý nhưng không gặp được ai, lúc này T đi bộ quay về nhà, khi đi ngang nhà bà T1, thấy bà T1 đang nằm dưới nền gạch, trên tay cầm điện thoại di động sử dụng, cổng rào và cửa nhà bà T1 không có đóng nên T nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại di động của bà T1. Lúc này, T bỏ dép ra và cầm dép trên tay rồi đi nhẹ vào chỗ bà T1 đang nằm, T nhanh chóng dùng tay trái giật lấy chiếc điện thoại Nokia C20 của bà T1 đang cầm trên tay. Sau khi giật lấy được điện thoại, T bỏ chạy khỏi nhà bà T1 và đi về nhà Tánh thay đồ. Khoảng hơn 15 giờ ngày 14/6/2024, T đem điện thoại vừa cướp giật được đến tiệm cầm đồ Kim Phú Q toạ lạc tại khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ gặp ông Lê Ngọc T2 để cầm điện thoại, ông T2 kiểm tra điện thoại và thống nhất cầm với giá 500.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T đem đi mua ma tuý sử dụng hết.
Ngày 16/6/2024, Công an xã T làm việc với ông Lê Ngọc T2, ông T2 biết được chiếc điện thoại di động đã cầm của T là do T phạm tội mà có nên tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.
Tại Kết luận định giá tài sản số 33/KL-ĐGTS ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C kết luận định giá một chiếc điện thoại di động hiệu Nokia C20 màu đen, kiểu số IMEI1: 350266785689061, số IMEI2: 350266785689079 có giá trị là 700.000 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chứng minh được, ngoài thực hiện hành vi Cướp giật tài sản vào ngày 14/6/2024, Trần Văn T còn 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 06 giờ 20 phút ngày 08/7/2024, tại nhà bà Nguyễn Thị T1, Trần Văn T đã lén lút lấy trộm của bà Nguyễn Thị T1 có một cái sào phơi đồ bằng kim loại sắt chiều dài 2m, chiều rộng hai thanh phơi 0,5m, chiều rộng hai chân đỡ 0,61m, nặng 9,6kg. Sau khi lấy trộm, T đem bán cho bà Danh H với giá 200.000 đồng rồi đem tiêu xài cá nhân hết. Sau khi bà T1 trình báo Công an xã T, Công an xã đã mời Tánh về làm việc, đồng thời ngày 09/7/2024, Công an xã T đã tạm giữ sào phơi đồ mà bà Danh H đã mua của Trần Văn T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 41/KL-ĐGTS ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C kết luận: Một sào phơi đồ bằng kim loại sắt, tổng trọng lượng 9,6kg, chiều dài 2m, chiều rộng hai thanh phơi 0,5m, chiều rộng hai chân đỡ 0,61m có giá trị là 47.360 đồng.
Lần thứ hai: Vào khoảng 13 giờ ngày 23/7/2024, tại ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, bị cáo Trần Văn T đã lén lút lấy trộm máy bơm nước nhãn hiệu Germany, công suất 3,5HP, thân máy bằng kim loại của Đoàn Minh D. Sau khi lấy trộm máy bơm, T đem về nhà bỏ vào bao nylon rồi thuê xe ôm chở lên Cần Thơ để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến cầu C, thì vợ ông D biết được nên điện thoại cho người chạy xe ôm kêu chở T trở lại. Khi về gần đến nhà ông D, T thấy ông D nên trả lại máy bơm nước cho ông D.
Tại Kết luận định giá tài sản số 42/KL-ĐGTS ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C kết luận: Một máy bơm nước hiệu Germay, công suất 3,5HP đã qua sử dụng có giá trị là 1.233.333 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Cáo trạng số 79/CT-VKS-HCTA ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Trần Văn T về tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; phân tích hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng, thời hạn chấp hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2024. Đề nghị tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 13 tháng 12 năm 2024 để bảo đảm cho việc thi hành án.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: Đã xử lý trong quá trình điều tra nên đề nghị không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo nộp lại 700.000đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, từ đó chứng minh được như sau:
Với động cơ tư lợi cá nhân, để có tiền tiêu xài và mua ma tuý sử dụng, trong thời gian từ ngày 14/6/2024 đến ngày 23/7/2024, tại địa bàn ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, bị cáo Trần Văn T đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
- Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, Trần Văn T lợi dụng sự sơ hở của bà Nguyễn Thị T1, khi bà T1 đang cầm điện thoại sử dụng tại nhà thì bị cáo đã tiếp cận bà T1 và nhanh chống giật chiếc điện thoại trên tay bà T1 và nhanh chống tẩu thoát. Chiếc điện thoại di động nhãn Nokia C20 màu đen đã qua sử dụng mà bị cáo giật của bà T1 theo kết luận định giá có giá trị là 700.000đồng.
- Vào khoảng 06 giờ 20 phút ngày 08/7/2024, Trần Văn T đã lén lút lấy trộm một cái sào phơi đồ bằng kim loại sắt chiều dài 2m, chiều rộng hai thanh phơi 0,5m, chiều rộng hai chân đỡ 0,61m, nặng 9,6kg, theo kết luận định giá có giá trị là 47.360đồng của bà Nguyễn Thị T1.
- Vào khoảng 13 giờ ngày 23/7/2024, Trần Văn T đã lén lút lấy trộm máy bơm nước nhãn hiệu Germany, công suất 3,5HP, thân máy bằng kim loại của ông Đoàn Minh D, theo kết luận định giá có giá trị là 1.233.333đồng.
Bị cáo T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Tài sản bị cáo trộm của bà T1 và ông D mặc dù giá trị nhỏ hơn 2.000.000đồng nhưng bị cáo có 02 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản nên, hành vi của bị cáo Trần Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” và tội “trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 và điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 25/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và ngày 08/3/2021 bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Đồng thời, trong vụ án này bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên bị cáo được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[2.3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo là người nghiện ma tuý, từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính buộc đi cai nghiện bắt buộc, hai lần bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, sau khi chấp hành xong các hình phạt, bị cáo không sửa đổi mà tiếp tục thực hiện hành vi cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản. Điều này cho thấy tính xem thường pháp luật của bị cáo, vì vậy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Từ những cơ sở trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ đánh giá toàn bộ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, mức độ thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn, hối cải, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án mà có mức hình phạt thích hợp, đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nhưng vẫn thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với Danh H và Lê Ngọc T2 đã có hành vi tiêu thụ tài sản do bị cáo T phạm tội mà có nhưng khi nhận cầm cố và mua tài sản này H và T2 không biết đây là tài sản Tánh phạm tội mà có và khi biết sự việc, H và T2 đã tự nguyện giao nộp tài sản lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra nên không đặt ra xem xét, xử lý trách nhiệm của H và T2.
[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.4] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã xử lý trả lại tài sản cho bị hại và xử lý đúng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.5] Bị cáo sau khi cướp giật được điện thoại của bà T1 đã mang đi cầm được 500.000đồng, và bán sào phơi đồ trộm của bà T1 được 200.000đồng. Tổng cộng tiền thu lợi bất chính là 700.000đồng bị cáo đã tiêu xài hết. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo nộp lại 700.000đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
[2.6] Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.
[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về xử lý vật chứng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Trần Văn T nộp lại 700.000đồng (bảy trăm ngàn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 13 tháng 12 năm 2024. Bị hại Nguyễn Thị T1, Đoàn Minh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Danh H và Lê Ngọc T2 có quyền kháng cáo đối với phần nội dung bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 171, điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 (ba) năm tù về tội cướp giật tài sản và 02 (hai) năm tù về tội trộm cắp tài sản.
Tổng hợp hình phạt mà bị cáo Trần Văn T phải chịu là 05 (năm) tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 01 tháng 8 năm 2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 13 tháng 12 năm 2024 để đảm đảm bảo cho việc thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Chúc Linh |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 05 năm tù
