Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ KON TUM

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày 17 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Brưk và ông Đào Văn Hậu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Quang Đô – Thư ký TAND thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Quyền – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn N, sinh năm 1982 tại tỉnh Kon Tum; nơi cư trú: Số A H, tổ H, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Không; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Bùi Thị T, sinh năm 1954; có vợ là Lê Thị N1, sinh năm 1992 và 02 con.

Tiền án: 01

Ngày 22/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon tum xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2022/HSST, ngày 29/8/2022 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 14/3/1999, bị Công an thành phố K bắt đưa vào Trường G – Cục C1, Bộ C2 tại thành phố Đà Nẵng.

- Ngày 04/7/2003, bị Tòa án nhân dân thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 24 tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án hình sự sơ thẩm số: 19/HS-ST.

- Ngày 29/9/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án hình sự sơ thẩm số 45/HSST. Ngày 02/4/2004, bị Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng xử y án 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án phúc thẩm số 130.

- Ngày 11/5/2004, TAND tỉnh Kon Tum ra Quyết định tổng hợp hình phạt số 99/QĐ-CA, quyết định tổng hợp hình phạt của hai bản án số 19/HS-ST ngày 04/7/2003 của TAND thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum và bản án số 130 ngày 02/4/2004 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng, buộc Lê Văn N phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm tù. Ngày 25/3/2009, chấp hành xong hình phạt tù.

- Ngày 18/4/2013 bị Công an thị xã K Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tiêm chích sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định số: 2389/QĐ/XPVPHC.

- Ngày 16/01/2014, UBND thành phố K ra Quyết định số 79/QĐ-CTUBND “Về việc bắt buộc đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh” thời hạn 24 tháng.

- Ngày 14/8/2018, bị TAND thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 45/2018/HS-ST. Ngày 27/12/2018 chấp hành xong hình phạt tù.

- Ngày 20/9/2021 bị Công an phường D, thành phố K Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định số: 103/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974 tại tỉnh Kon Tum; nơi cư trú: Số H C, tổ E, phường N, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Không; học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị N2 (đều đã chết); có vợ là Mai Thị D, sinh năm 1977 và 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Thị T, sinh năm 1954

Trú tại: Số A H, tổ H, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (có mặt).

2. Chị Dương Thị Mỹ H, sinh năm 1986

Trú tại: Tổ A, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến:

1. Anh Đặng Minh T2, sinh năm 1992

Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

2. Chị Đặng Thị L, sinh năm 1979

Trú tại: Tổ B, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/02/2024, Lê Văn N điều khiển xe mô tô BKS 82B1-354.37 đến nhà Nguyễn Văn T1 tại số H C, tổ E, phường N, thành phố K để chơi. Tại đây, T1 rủ N góp tiền mua ma túy về sử dụng thì N đồng ý. Cả hai thống nhất: Thứ góp 400.000 đồng, còn N góp 50.000 đồng để mua. Sau đó, N điều khiển xe mô tô BKS 82B1-354.37 chở Thứ đi tìm mua ma túy. Khi đến trước Nhà thờ T3 trên đường N, phường T, thành phố K, NT1 gặp một người tên M (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đang đứng ven đường. Biết M có bán ma túy, N lại gần hỏi mua ma túy loại Heroine với giá 450.000 đồng thì M đồng ý bán. Nguyên đưa số tiền 450.000 đồng cho M, rồi M nói cả hai đứng đợi. Khoảng 15 phút sau, M quay lại nói NT1 đến đầu hẻm S đường N, phường T, thành phố K để lấy ma túy để dưới chân cột biển báo tên đường. Nguyên liền chở T1 đến nơi, T1 lấy được 01 gói ma túy dưới chân cột biển báo tên đường rồi đưa cho N, N cầm trong lòng bàn tay phải rồi cả hai đi ra vị trí dựng xe mô tô. Khi NT1 chuẩn bị điều khiển xe mô tô rời đi thì bị Công an thành phố K tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay phải của N có 01 gói giấy màu hồng có chứa Heroine, được bỏ trong bì ni lông dán kín, bên ngoài được bọc bằng vải màu trắng, buộc dây dù. Công an thành phố K đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong tang vật theo quy định.

Tại kết luận giám định số: 49/KL-KTHS ngày 26/02/2024, Phòng K1 - Công an tỉnh K đã kết luận: Mẫu chất cục bột trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại: Heroine, có tên khoa học là D1, có khối lượng là 0,157 gam.

Tại bản cáo trạng số: 65/CT-VKSTPKT ngày 03 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã truy tố các bị cáo Lê Văn N, Nguyễn Văn T1 cùng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn N, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn N từ 13 đến 16 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (22/02/2024).

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 13 đến 16 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (22/02/2024).

3. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,153 gam ma túy loại Heroine (Số ma túy còn lại sau giám định) được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có in nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 49/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH KON TUM” và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán.

- Trả lại cho bị cáo Lê Văn N: 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, mặt sau có chữ itel, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu màu đỏ của Công an phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum, ký hiệu “ĐT Nguyên”.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T1: 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, mặt sau có chữ VIVO đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu màu đỏ của Công an phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum, ghi chữ “ĐT Thứ”.

4. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Hội đồng xét xử thấy rằng các hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum trong quá trình điều tra, truy tố đều đảm bảo thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không có người tham gia tố tụng nào khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn N, Nguyễn Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra, với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/02/2024, tại đầu hẻm S đường N, phường T, thành phố K, Nguyễn Văn T1 đã có hành vi rủ Lê Văn N cùng góp tiền mua ma túy để sử dụng, thì bị Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum phát hiện, bắt quả tang và thu giữ được trong lòng bàn tay phải của N 01 gói ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D1, có khối lượng 0,157 gam. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố các bị cáo Lê Văn N, Nguyễn Văn T1 cùng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự hiện hành là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét thấy: Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, có tác hại xấu đến sức khỏe thể chất và tâm thần người sử dụng, từ đó, dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác, nên được Nhà nước quản lý chặt chẽ và độc quyền. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thể chất cho bản thân nói riêng và đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nói chung, là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo Lê Văn N có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự hiện hành.

[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự hiện hành đối với các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo N có cha đẻ là người có công với cách mạng, được phong tặng Huân chương kháng chiến hạng ba nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự hiện hành cho bị cáo.

Bên cạnh đó, cũng cần xem xét vai trò tham gia của từng bị cáo trong vụ án để xử phạt các bị cáo một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ và phân công vai trò cụ thể. Trong vụ án này, các bị cáo đều tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành; trong đó, bị cáo N thực hành tích cực hơn, bị cáo T1 còn là người khởi xướng. Do đó, trong lần phạm tội này, bị cáo T1 phải chịu mức hình phạt cao hơn. Tuy nhiên, đánh giá toàn diện về nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì bị cáo N phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T1 mới đảm bảo sự công bằng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự hiện hành đối với các bị cáo.

[6] Trong vụ án, còn có đối tượng tên “M” là người đã bán ma túy cho các bị cáo. Tuy nhiên, hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên tách ra, tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau là phù hợp.

Đối với bà Bùi Thị T là chủ sở hữu xe mô tô biển số 82B1-354.37. Bà T không biết việc bị cáo Lê Văn N sử dụng xe mô tô này để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà Bùi Thị T là đúng pháp luật.

[7] Về vật chứng vụ án:

Đối với 0,153 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có in nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 49/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH KON TUM” và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán: Đây là tang vật chứng của vụ án và là chất bị cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, mặt sau có chữ VIVO đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu màu đỏ của Công an phường T, thành phố K, ghi chữ “ĐT Thứ” và 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, mặt sau có chữ itel, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu màu đỏ của Công an phường T, thành phố K, ký hiệu “ĐT Nguyên”. Đây là tài sản của các bị cáo Lê Văn N, Nguyễn Văn T1 không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo Lê Văn N, Nguyễn Văn T1 theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô biển số 82B1-354.37 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong: Cơ quan CSĐT- Công an thành phố K đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp bà Bùi Thị T là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không giải quyết lại.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn N, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (22/02/2024).

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (22/02/2024).

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,153 gam ma túy loại Heroine (Số ma túy còn lại sau giám định) được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có in nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 49/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH KON TUM” và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán.

- Trả lại cho bị cáo Lê Văn N: 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, mặt sau có chữ itel, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu màu đỏ của Công an phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum, ký hiệu “ĐT Nguyên”.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T1: 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, mặt sau có chữ VIVO đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu màu đỏ của Công an phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum, ghi chữ “ĐT Thứ”.

(Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum).

3. Về án phí:

Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Lê Văn NNguyễn Văn T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/6/2024), các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để xin xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND Tp. Kon Tum;
  • - Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Kon Tum;
  • - Chi cục THADS Tp. Kon Tum;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Thị Phương Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: áp dụng hình phạt tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger