|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/HS-ST
Ngày 19-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Kiểm
Bà Lý Thị Thiên Nga
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên – Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị N, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1957 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V và bà Vũ Thị C; có chồng là Vũ Văn T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 27/9/2023 đến ngày 05/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Vũ Thị C1, sinh năm 1980, nơi cư trú: 30/113/143 T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 27/9/2023, tổ công tác Công an quận N làm nhiệm vụ trên địa bàn phát hiện, bắt quả tang Lê Thị Bích L (sinh năm 1983, nơi ở 1 Đ, N, Hải Phòng) và Trần Thị Thùy V1 (sinh năm 1996, nơi ở hiện nay: 16/29/139 N, H, Hải Phòng) có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số đề của Vũ Thị C1 (sinh năm 1980, nơi ở: 30/113/143 Tôn Đức T, Trần Nguyên H, L, Hải Phòng) tại khu vực trước cửa số 3 P, M, Ngô Quyền. Thu giữ của C1 03 tích kê ghi số đề và số tiền 4.800.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N xác định trong ngày 27/9/2023, Trần Thị Thùy V2 còn có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số đề của bà Trần Thị N, 21 giờ 30 ngày 27/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét nơi ở đối với Trần Thị N, thu giữ 01 bảng số đề và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo.
Tại cơ quan điều tra Công an quận N, Trần Thị N khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 27/9/2023, N dọn bàn ra trước cửa nhà tại thôn V, xã A, H, Hải Phòng để bán số đề cho người qua đường mục đích hưởng hoa hồng. Kết quả số đề tính theo kết quả xổ số miền Bắc thường hàng ngày, ai trúng thưởng đến lĩnh tại bàn của N. Người trúng thưởng “bạch thủ” (số đề trúng 02 số cuối cùng với giải đặc biệt xổ số) thì lĩnh gấp 80 lần số tiền bỏ ra, ai trúng bao (số đề trúng với 2 số cuối của bất kì giải nào của xổ số được lĩnh gấp 3,4 lần số tiền bỏ ra, người trúng xiên 2 (tức 2 số cuối của cặp đề trúng với 2 số cuối của 2 cặp xổ số bất kỳ) được lĩnh gấp 14 lần số tiền bỏ ra, ai trúng 3 càng (tức 3 số đề trúng với 3 số cuối của giải đặc biệt xổ số) thì lĩnh gấp 400 lần số tiền bỏ ra. Đối với khách mua đề trực tiếp thì N ghi tích kê (vé số đề) kích thước 5x7cm giấy màu trắng có chữ ký của N) làm 2 bản, bản chính đưa cho khách còn bản in giấy than N giữ lại để đối chiếu. Trước giờ quay xổ số, N tổng hợp vào bảng kê và dùng điện thoại Vivo chụp gửi bảng kê cho một người phụ nữ sử dụng zalo tên “Anna”. Theo thỏa thuận, N được hưởng hoa hồng khi chuyển bảng cho A, cụ thể: Đề được 17%, bao được 7%, xiên 2 được 22%, ba càng được 35% số tiền N bán được và việc thanh toán tiền đề, tiền hoa hồng vào trưa ngày hôm sau. Ngày 27/9/2023, N bán được 01 bảng đề các loại tổng số tiền là 6.315.000 đồng (1.950.000 đồng tiền đề, 3.550.000 đồng tiền bao, 710.000 đồng tiền xiên, 105.000 đồng tiền ba càng), theo đó N được hưởng hoa hồng là 771.000 đồng. N chưa chuyển tiền bán đề và nhận tiền hoa hồng thì ngày 27/9/2023 thì đã bị Công an quận N bắt. Đối chiếu kết quả xổ số miền bắc ngày 27/9/2023, bảng đề của N không có số trúng thưởng. Việc giao dịch của N và người có tài khoản “Anna” chỉ qua zalo, mỗi lần A cho một người đến thanh toán trực tiếp tại nhà N, N không biết người phụ nữ tên “Anna” và những người đến nhà N thu tiền.
Tại Cáo trạng số 74/CT-VKSNQ ngày 07 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Trần Thị N về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
2
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 36, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị N từ 9 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (trừ cho bị cáo 24 ngày do bị cáo đã chấp hành tạm giữ 08 ngày). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự Huỷ bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12s số Imei1: 865652059601536, Imei2: 865652059601528; Tịch thu tiêu hủy 01 sim có số ICCID 8984011908240751923; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.530.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002836 ngày 08/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền.
- Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
- Đối với Trần Thị Thùy V2 và Lê Thị Bích L là người mua số đề, chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Thị Thùy V2, Lê Thị Bích L về hành vi Đánh bạc. Đối với Vũ Thị C1 khai nhận có hành vi làm chủ lô đề, ngày 27/9/2023, bắt quả tang thu giữ của Cha 4.800.000 đồng, qua xác minh số tiền C1 nhận ghi đề là 2.530.000 đồng. Còn số tiền 2.270.000 đồng là tiền cá nhân của C1, qua xác minh C1 chưa có tiền án, tiền sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra quyết định xử phạt hành chính đối với Vũ Thị C1 về hành vi đánh bạc. Hội đồng xét xử xét thấy, việc xử lý của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với đối tượng sử dụng tài khoản zalo tên “Anna” nhận các số lô đề của N đến nay chưa xác định được cần cước lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị C1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và không có ý kiến gì về việc xử lý số tiền bán đề của chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ
3
luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Vũ Thị C1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
- Về tội danh:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Trong ngày 27/9/2023, Trần Thị N đã có hành vi bán và chuyển các số lô đề với tổng số tiền là 6.315.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Trần Thị N có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có thời gian tham gia quân đội nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội.
[7] Theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Xét bị cáo là người cao tuổi, hoàn cảnh khó khăn nên căn cứ khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
4
[9] Về 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12s số Imei1: 865652059601536, Imei2: 865652059601528, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về 01 sim có số ICCID 8984011908240751923 đã qua sử dụng, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Về số tiền 2.530.000 đồng là số tiền Vũ Thị Chà nhận ghi đề nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
[12] Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
- Những vấn đề khác:
[13] Đối với Trần Thị Thùy V2 và Lê Thị Bích L là người mua số đề, chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Thị Thùy V2, Lê Thị Bích L về hành vi Đánh bạc. Đối với Vũ Thị C1 khai nhận có hành vi làm chủ lô đề, ngày 27/9/2023, bắt quả tang thu giữ của C1 4.800.000 đồng, qua xác minh số tiền C1 nhận ghi đề là 2.530.000 đồng. Còn số tiền 2.270.000 đồng là tiền cá nhân của C1, qua xác minh C1 chưa có tiền án, tiền sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra quyết định xử phạt hành chính đối với Vũ Thị C1 về hành vi đánh bạc. Hội đồng xét xử xét thấy, việc xử lý của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N phù hợp với quy định của pháp luật.
[15] Đối với đối tượng sử dụng tài khoản zalo tên “Anna” nhận các số lô đề của N đến nay chưa xác định được căn cước lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 36, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Trần Thị N 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ được trừ 24 ngày (do đã bị tạm giữ 08 ngày, từ ngày 27/9/2023 đến ngày 05/10/2023). Bị cáo Trần Thị N còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 06 (sáu) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Trần Thị N tính từ
5
ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Thị N cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo Trần Thị N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã A trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Thị N.
“Trong trường hợp bị cáo áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này; phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc trong quản đời thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.”
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Thị N kể từ ngày tuyên án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a,b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12s số Imei1: 865652059601536, Imei2: 865652059601528.
Tịch thu tiêu hủy 01 sim có số ICCID 8984011908240751923 đã qua sử dụng.
6
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền Vũ Thị Chà nhận ghi đề là 2.530.000 đồng (hai triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002836 ngày 08/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Trần Thị N được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Trần Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Vũ Thị C1 có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của chị Vũ Thị C1 trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
7
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024
