|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HS-ST |
Ngày: 18 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Hà.
Thẩm phán: Ông Cao Việt Hoàng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Luận.
Ông Trương Ngọc Cường.
Bà Nguyễn Thị Bẩy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 04/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu C, sinh năm 1999; nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1967 và bà Mai Thị Thu H, sinh năm 1972; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: năm 2018 đi bộ đội đến tháng 01/2020 xuất ngũ về địa phương; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.
* Bị hại: Anh Nguyễn Tiến T, sinh năm 1999; trú tại: khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo C (do chỉ định): Luật sư Nguyễn Thị Thu T1 thuộc công ty L2 - Đoàn luật sư tỉnh B, địa chỉ: số H K, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1998, trú tại: Chợ S, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Anh Nguyễn Hữu C1, sinh năm 2002; trú tại: thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Hữu B – Cán bộ tin học Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam công an tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu C, sinh năm 1999, HKTT: thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh và anh Nguyễn Tiến T, sinh năm 1999, HKTT: khu T, phường K, TP B là bạn học cùng cấp 3 với nhau. Khoảng đầu năm 2021, C giới thiệu với anh T về việc C đang làm nhân viên kỹ thuật sửa chữa, lắp đặt máy đục gỗ tự động CNC cho Công ty TNHH T4 (gọi tắt là Công ty S), có địa chỉ tại Lô D, khu A, phường Đ, TP T, tỉnh Bắc Ninh. Trong quá trình đó, C còn mua máy CNC của Công ty S rồi bán lại cho khách hàng có nhu cầu. Khoảng tháng 7/2021, do cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân nên C đã nói dối anh T về việc đang có nhiều khách hàng đặt mua máy CNC, mỗi con máy CNC có giá trị thấp nhất từ 50 đến 70 triệu, cao nhất từ 500 đến 700 triệu đồng, lợi nhuận mỗi con máy từ 30-40%, nếu anh T đồng ý góp vốn thì lợi nhuận sẽ được chia như sau: Phần lợi nhuận được trích 7% cho C coi như tiền công mua - bán máy; phần lợi nhuận còn lại được chia theo tỷ lệ vốn góp của mỗi người, thời gian chuyển máy về khoảng 01 tháng, đồng thời C nói lô máy CNC trị giá khoảng 5.000.000.000đ, khách đã đặt cọc 940.000.000đ. Tin tưởng C, anh T đồng ý góp vốn. Từ ngày 02/7/2021 đến ngày 10/02/2022, anh T sử dụng tài khoản Ngân hàng T5 số 19036065711015 của mình chuyển khoản 26 lần vào tài khoản Ngân hàng B1 số 25610001993082 của C tổng số tiền 2.535.260.000đ để góp vốn mua máy CNC với C. Mỗi lần anh T hỏi về phần lợi nhuận mua - bán máy CNC, C đều nói dối anh T là phần lợi nhuận đó giữ lại để tiếp tục đầu tư và chưa chuyển cho anh T khoản tiền lợi nhuận nào. Toàn bộ số tiền nhận được của anh T, C không sử dụng để mua máy CNC như đã nói với anh T mà sử dụng chi tiêu sinh hoạt cá nhân, trả nợ và nạp tiền chơi tiền ảo thua hết. Đến tháng 8/2022, không thấy C chuyển máy về và cũng không thấy C chuyển tiền lợi nhuận, anh T có hỏi thì C tiếp tục nói dối anh T về việc Công ty S không giao máy và Công ty T6 sẽ trả lại tiền đã chuyển mua máy cùng tiền phạt hợp đồng với tổng số tiền là 6.900.000.000đ.
Ngày 16/9/2022, anh T và C lập 01 "Biên bản xác nhận khoản tiền nhận về" số 16/09/2022/BBXNKTNV với nội dung: Anh T và C là đồng sở hữu khoản tiền 6.900.000.000đ nhận về từ Công ty S, trong đó phần của C là 984.340.000đ, phần của anh T là 4.975.660.000đ và phần tiền hoàn trả khách đặt cọc máy là 940.000.000đ. Sau đó, qua tìm hiểu anh T được biết C không mua máy CNC của Công ty S và Công ty S cũng không có khoản nợ nào với C nên anh T đã làm đơn tố giác C đến Cơ quan điều tra.
*Các tài liệu thu giữ:
- Anh T giao nộp: 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng T5 số 19036065711015, chủ tài khoản Nguyễn Tiến T; 01 “Biên bản xác nhận khoản tiền nhận về”, đề ngày 16/9/2022 giữa anh T và C (ký hiệu A);
- C giao nộp: 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng B1, chủ tài khoản Nguyễn Hữu C;
- Thu mẫu chữ ký, chữ viết của C (ký hiệu M1) và anh T (ký hiệu M2) để tiến hành giám định;
* Kết quả giám định: Tại Kết luận giám định số 357/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- + Chữ ký, chữ viết đứng tên “Nguyễn Hữu C” dưới mục “Bên A” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Hữu C trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1) là do cùng một người ký, viết ra.
- + Chữ ký, chữ viết đứng tên “Nguyễn Tiến T” dưới mục “Bên B” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Tiến T trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) là do cùng một người ký, viết ra.
*Kết quả xác minh:
- - Xác minh tại Công ty S được chị Nguyễn Thị D (Giám đốc Công ty) cho biết: Tháng 02/2021, Nguyễn Hữu C vào làm nhân viên kỹ thuật tại Công ty, thời gian thử việc là 12 tháng. Đến tháng 01/2022, C tự ý nghỉ việc không lý do. Trong quá trình C làm việc và sau khi C nghỉ việc, Công ty với C không có bất kỳ giao dịch mua bán máy nào, Công ty không nợ khoản tiền nào với C;
- - Xác minh về các tài khoản đã nhận tiền do C chuyển đến từ số tiền C nhận được của anh T xác định:
1. Đối với 10 chủ tài khoản đã xác minh làm rõ thông tin đã nhận 777.750.000đ do C chuyển cho, gồm:
- + Tài khoản ngân hàng T5 số 19036292984011, chủ tài khoản Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1998, HKTT: Chợ S, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh được C chuyển số tiền 63.000.000đ. Làm việc với anh L xác định: Anh L là anh họ của C, số tiền C chuyển là để thanh toán nợ với anh L, không liên quan gì đến việc mua máy CNC.
- + Tài khoản ngân hàng V số [...], chủ tài khoản Nguyễn Hữu C1, sinh năm 2002, HKTT: thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh được C chuyển số tiền 123.450.000đ. Làm việc với anh C1 xác định: Anh C1 là em ruột của C, số tiền mà C chuyển cho anh C1 là tiền chi tiêu sinh hoạt gia đình, không liên quan gì đến việc mua máy CNC.
- + Tài khoản ngân hàng M, chủ tài khoản Phạm Tiến Đ, sinh năm 1986, HKTT: thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh được C chuyển số tiền 2.000.000đ. Đây là tiền vay mượn giữa C với anh Đ, không liên quan gì đến việc mua máy CNC.
- + Tài khoản ngân hàng B1 và tài khoản ngân hàng T5 số 19033709862010, chủ tài khoản Phạm Văn T2, sinh năm 1999, HKTT: xóm C, thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh được C chuyển số tiền 4.000.000đ. Đây là tiền vay mượn cá nhân giữa C với T2, không liên quan gì đến việc mua máy CNC.
- + Tài khoản ngân hàng V1 số 0351001195791, chủ tài khoản Nguyễn Thị H1, sinh năm 1998, HKTT: xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh được C chuyển số tiền 300.000đ. C mới quen biết H1 và đây là tiền C mừng sinh nhật của H1, không liên quan gì đến việc mua máy CNC.
- + Tài khoản ngân hàng V1 số 0931004212582, chủ tài khoản Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1994, HKTT: thôn V, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang được C chuyển số tiền 80.000.000đ. Xác minh tại Công an xã Đ xác định: Trên địa bàn thôn V nói riêng và xã Đ nói chung không có công dân nào có họ tên và địa chỉ trên sinh sống.
- + Tài khoản ngân hàng B1 và tài khoản ngân hàng V số [...], chủ tài khoản Huỳnh Thanh T3, sinh năm 1993, HKTT: thôn D, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang được C chuyển số tiền 209.000.000đ. Xác minh tại Công an xã M xác định: Trên địa bàn xã M không có công dân nào có họ tên và địa chỉ trên sinh sống.
- + Tài khoản ngân hàng V1 số 1015211436, chủ tài khoản Hoàng Kim N1, sinh năm 1993, HKTT: thôn C, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ được C chuyển số tiền 74.000.000đ. Xác minh tại Công an xã P xác định: Tại xã P không có công dân Hoàng Kim N1 có thông tin trên sinh sống, đăng ký thường trú, tạm trú trên địa bàn.
- + Tài khoản ngân hàng V1 số 1013008291, chủ tài khoản Phạm Thanh P, sinh năm 1987, HKTT: số E đường N, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình được C chuyển số tiền 10.000.000đ. Xác minh tại Công an phường B xác định: Trên địa bàn phường không có ai là Phạm Thanh P có lai lịch trên đang sinh sống và tạm trú trên địa bàn phường.
- + Tài khoản ngân hàng B1, chủ tài khoản Nguyễn Thành H2, CMND số [...], địa chỉ: thôn A, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang được C chuyển số tiền 160.000.000đ. Xác minh tại Công an xã V xác định: Trên địa bàn thôn A nói riêng và xã V nói chung, không có thông tin, không có người nào tên Nguyễn Thành H2 cư trú, sinh sống trên địa bàn.
- + Tài khoản ngân hàng V2 số 0961000041643, chủ tài khoản Nguyễn Cao L1, sinh năm 1990, HKTT: tổ D khu F, phường B, TP H, tỉnh Quảng Ninh được C chuyển 52.000.000đ. Xác minh tại phường B xác định: Kiểm tra trên cơ sở dữ liệu thông tin về quốc gia chưa phát hiện công dân nào có tên, tuổi, địa chỉ như trên.
2. Đối với 19 chủ tài khoản còn lại đã nhận 1.729.510.000đ do C chuyển đến, Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra cho Cơ quan điều tra Công an các huyện C, huyện T (tỉnh Tây Ninh); Cơ quan điều tra Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình; huyện T, tỉnh Thái Bình; huyện Y, tỉnh Hòa Bình; huyện V, tỉnh Lạng Sơn và thành phố B, tỉnh Đông Nai nhưng đến nay chưa có kết quả.
3. Ngoài ra, C còn rút 26.000.000đ tiền mặt và nạp ví momo 02 lần mỗi lần 1.000.000đ để chi tiêu sinh hoạt cá nhân.
Tiến hành đấu tranh với C, kết quả rà soát trên tài khoản ngân hàng B1 của C và kết quả làm việc với anh T xác định: Trong số 26 chủ tài khoản đã nhận tiền của C, C chuyển tiền để sử dụng chi tiêu, sinh hoạt gia đình cho Nguyễn Hữu C1; trả nợ cho Nguyễn Ngọc L, Phạm Tiến Đ, Phạm Văn T2; tặng quà sinh nhật cho Nguyễn Thị H1; rút tiền mặt và nạp vào ví momo của mình để chi tiêu với tổng số tiền là 220.750.000đ. Các chủ tài khoản còn lại, C đều không quen biết họ và thực hiện chuyển 2.314.510.000đ vào tài khoản của những người này mục đích để nạp tiền chơi tiền ảo trên mạng theo các số tài khoản mà hệ thống yêu cầu. Toàn bộ số tiền nạp vào, C đã chơi thua hết. Ngoài ra, C còn 03 lần chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng T5 của anh T tổng số tiền 10.100.000đ. Đây là tiền C trả nợ các khoản vay ngoài của anh T, không liên quan gì đến việc mua máy CNC.
*Về trách nhiệm dân sự: Toàn bộ số tiền C đã chiếm đoạt của anh T đến nay C chưa bồi thường gì cho anh T. Đến nay, anh T yêu cầu C trả lại toàn bộ số tiền 2.535.260.000đ đã chiếm đoạt.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Tại Cáo trạng số: 71/CT-VKS-P2 ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Hữu C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận đã lợi dụng quan hệ quen biết, đưa ra thông tin gian dối về việc đang có khách hàng đặt mua máy CNC và khi bán có lợi nhuận cao để anh Nguyễn Tiến T góp tiền đầu tư mua máy CNC của Công ty S về bán, lắp đặt cho khách hàng hưởng lợi nhuận để chiếm đoạt 2.535.260.000 đồng của anh T, lấy tiền chi tiêu cá nhân, trả nợ và đánh bạc trên mạng. Bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo xác định có trách nhiệm trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho anh T nhưng chưa có điều kiện.
Bị hại là anh Nguyễn Tiến T trình bày: Yêu cầu xét xử bị cáo C theo quy định của pháp luật và buộc bị cáo phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 2.535.260.000 đồng.
Người làm chứng trình bày: Anh L xác nhận có quan hệ họ hàng với bị cáo C và nhiều lần cho C vay tiền, sau đó C nhiều lần chuyển khoản trả nợ cho anh L. Vì thời gian đã lâu nên anh L không nhớ chi tiết. Còn anh C1 xác nhận là em ruột của bị cáo C, có nhiều lần nhận tiền do C chuyển khoản nhưng không nhớ chính xác. Anh L và anh C1 đều khai không biết số tiền chuyển khoản là do C lừa đảo chiếm đoạt của anh T mà có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố; sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C từ 13 đến 14 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 21/02/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Hữu C phải bồi thường cho anh Nguyễn Tiến T số tiền 2.535.260.000 đồng.
Người bào chữa và bị cáo trình bày: Nhất trí về tội danh và khung hình phạt như truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo có nhân thân tốt, đã từng tham gia và hoàn thành tốt nghĩa vụ quân sự, được tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s và điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội, làm ăn trả nợ cho bị hại.
Bị hại là anh T nhất trí về tội danh và khung hình phạt như luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên bị cáo C lúc đầu không thừa nhận, chối quanh nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với C là thấp nên đề nghị HĐXX tăng mức hình phạt cho bị cáo.
Đối đáp với ý kiến của bị cáo, người bào chữa và bị hại: Sau khi bị bắt giam đến phiên tòa sơ thẩm, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ; bị cáo được Bộ T7 tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong phong trào thi đua Quyết thắng năm 2019 khi bị cáo tham gia quân ngũ không phải là thành tích xuất sắc trong chiến đấu nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 mà được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là đúng quy định. Viện kiểm sát khẳng định đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả bị cáo gây ra, xem xét toàn diện vụ án và đề nghị xử bị cáo mức án từ 13 đến 14 năm tù là phù hợp. Do vậy, giữ nguyên quan điểm như đã luận tội.
Người bào chữa, bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận khác và giữ nguyên quan điểm.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo rất hối hận về hành vi của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập, do vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 02/7/2021 đến ngày 10/02/2022, tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Hữu C đã đưa ra thông tin gian dối về việc đang có khách hàng đặt mua máy CNC và khi bán có lợi nhuận cao để anh Nguyễn Tiến T góp tiền đầu tư mua máy CNC của Công ty S về bán, lắp đặt cho khách hàng hưởng lợi nhuận. Anh T đã 26 lần chuyển khoản cho C tổng số 2.535.260.000đ. Toàn bộ số tiền nhận được của anh T, C không sử dụng vào việc mua máy CNC như đã nói với anh T mà sử dụng vào việc trả nợ, chi tiêu sinh hoạt cá nhân số tiền 220.750.000đ, số tiền 2.314.510.000đ còn lại, C sử dụng nạp tiền chơi tiền ảo trên mạng và thua hết. Nguyễn Hữu C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của C đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố và luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX nhận thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và được tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong phong trào thi đua Quyết thắng năm 2019 nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị của bị hại về việc không cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo và đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng điểm v khoản 1 Điều 51 đối với tình tiết bị cáo C được tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến năm 2019 là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo đã thực hiện hành vi gian dối nhằm lừa đảo số tiền lớn của bị hại là 2.535.260.000đ, nhưng đến nay chưa bồi thường đồng nào cho bị hại. Do vậy, mức hình phạt tù mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt là 2.535.260.000 đồng.
[5] Về các vấn đề liên quan trong vụ án:
- - Đối với hành vi nạp tiền để chơi tiền ảo theo lời khai của C, do C không nhớ cụ thể đã nạp tiền vào tài khoản trên trang Web nào nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau;
- - Đối với anh Nguyễn Hữu C1, anh Nguyễn Ngọc L, anh Phạm Tiến Đ, anh Phạm Văn T2 và chị Nguyễn Thị H1 là những người đã nhận tiền của C từ số tiền C chiếm đoạt của anh T. Tuy nhiên, khi chuyển tiền cho họ C không nói và những người này đều không biết nguồn gốc của số tiền do C chuyển nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 14 (Mười bốn) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 21/02/2024.
Tiếp tục duy trì quyết định tạm giam số 67/2024/HSST-QĐTG ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để đảm bảo thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu C phải bồi thường cho anh Nguyễn Tiến T số tiền 2.535.260.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hữu C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 82.705.200 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Hà |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
