|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 81/2024/HS-ST Ngày 16 tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Việt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Ngọc và bà Trần Thị Bích Hằng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thanh N, sinh ngày 24/10/2000; Giới tính: Nam; trú tại: Thôn Làng Mạ, xã Tam Quan, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ng và bà Phạm Thị L; có vợ là Trần Thị V và có 02 con (lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định số 87 ngày 08/10/2021, Công an thành phố Vĩnh Yên xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với N về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, mức phạt 1.500.000đ, Nam nộp phạt ngày 07/9/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Đảo. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng hơn 13 giờ ngày 07/6/2024, Trần Thanh N đi bộ từ nhà mình ra đoạn đường gần nhà rồi đi nhờ xe máy của một người đàn ông lạ mặt đến khu vực cầu Đại Điền thuộc TDP. Đại Điền, thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, N gặp 01 người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ), N hỏi người này “Anh có hàng trắng không”, người đàn ông này bảo “Có”, N nói “Để cho em hai trăm” đồng thời đưa 200.000đ cho người đàn ông này, người này cầm tiền rồi bỏ đi khoảng 05 phút sau quay lại đưa cho Nam 01 gói ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy, N cầm gói ma túy ở tay trái rồi đi tìm địa điểm để sử dụng. Khi N đi đến khu vực gần quán tạp hóa của ông Từ Minh Huy ở thôn Quẵng, xã Tam Quan, huyện Tam Đảo thì bị tổ công tác Công an huyện Tam Đảo phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ: tại lòng bàn tay trái của Nam 01 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất cục bột màu trắng, N khai là ma túy Heroine của N vừa mua để sử dụng, niêm phong ký hiệu M1, tạm giữ của Nam 01 mảnh giấy bạc, 01 CCCD mang tên Trần Thanh Nam và số tiền 50.000đ.
Tại Kết luận giám định số 1684 ngày 11/6/2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1651g (không kể bao bì)”.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho N, quá trình điều tra, N khai người này khoảng 35 tuổi, người gầy, cao khoảng 1,65m ở thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo nhưng không có người nào có đặc điểm như N khai. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với người đàn ông cho N đi nhờ xe đến thị trấn Đại Đình mua ma túy, Nam khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, xử lý trong vụ án này.
Tại Cáo trạng số 81/CT-VKSTĐ ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đã truy tố Trần Thanh N về tội “Tàng trữ phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà đã phân tích hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Thanh N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định là 0,1306g cùng toàn bộ bao gói và 01 mảnh giấy bạc, kích thước khoảng (6,5x5)cm, Nam khai dùng vào mục đích sử dụng trái phép chất ma túy; trả lại cho Trần Thanh N 01 CCCD số [...] mang tên Trần Thanh N là giấy tờ tùy thân của N không liên quan đến hành vi phạm tội; trả lại cho Trần Thanh N số tiền 50.000đ là tài sản của N không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ bảo đảm thi hành án.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận và rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, với các chứng cứ khác đã được thu thập và phù hợp với Cáo trạng đã được Đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Do vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Thanh N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
C) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Ma tuý là một tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ tái phép chất ma túy” nhưng không chịu rèn luyện để trở thành công dân có ích mà còn tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung;
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do vậy cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
[5] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định là 0,1306g cùng toàn bộ bao gói và 01 mảnh giấy bạc, kích thước khoảng (6,5x5)cm, Nam khai dùng vào mục đích sử dụng trái phép chất ma túy; trả lại cho Trần Thanh Nam 01 CCCD số [...] mang tên Trần Thanh N là giấy tờ tùy thân của N không liên quan đến hành vi phạm tội; trả lại cho Trần Thanh N số tiền 50.000đ là tài sản của N không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ bảo đảm thi hành án;
[6] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chiu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Thanh N 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 07/6/2024;
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định là 0,1306g cùng toàn bộ bao gói và 01 mảnh giấy bạc, kích thước khoảng (6,5x5)cm; trả lại cho Trần Thanh N 01 CCCD số [...] mang tên Trần Thanh N; trả lại cho Trần Thanh N số tiền 50.000đ là tài sản của Nam không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ bảo đảm thi hành án;
(có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2024)
4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án án số 326/2016/PL-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Việt |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
