|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HS-ST Ngày: 16 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phước Cường và bà Trương Thị Bích Tuyền.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Trần Văn P, sinh năm 1982, tại L - An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: số D, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phú C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim A; anh, chị, em ruột có 06 người, bị cáo là người nhỏ nhất; tiền sự: không;
Tiền án: Ngày 29-9-2020, Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 09-4-2021, Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; tổng hình phạt là 03 năm tù, chấp hành án tại Trại giam Đ, đến ngày 28-3-2023 chấp hành xong, chưa xoá án tích.
Bị tạm giữ từ ngày 23-3-2024, đến ngày 26-3-2024 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Phan Thanh P1, sinh năm 1997, tại Hồ N - Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh T và bà Nguyễn Thị N; anh, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền sự: không;
Tiền án: Ngày 19-3-2018, Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 21-3-2018, Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 25-6-2018, Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hình phạt của 03 bản án là 05 năm tù, chấp hành tại Trại giam Đ đến ngày 12-12-2022 chấp hành xong, chưa được xoá án tích.
Bị tạm giữ từ ngày 23-3-2024, đến ngày 26-3-2024 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Em Nguyễn Thái T1, sinh năm 2008, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1964, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1964, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người làm chứng: Lê Minh T2, sinh năm 1990, vắng mặt; Phạm Văn T3, sinh năm 1987, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn P và Phan Thanh P1 sau khi chấp hành án tại Trại giam Đ thường xuyên liên lạc rủ nhau tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng và tiêu xài. Khoảng 23 giờ ngày 22-3-2024, P nhắn tin qua điện thoại rủ P1 tìm xe mô tô lấy trộm thì P1 đồng ý. Khoảng 02 giờ ngày 23-3-2024, P điều khiển xe mô tô biển số 67K1-043.24 đến nhà P1 tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang để cùng nhau đi tìm tài sản lấy trộm. Đến khu vực đường T thuộc khóm H, phường C, thành phố C phát hiện phía trước nhà số G có đậu 03 chiếc xe mô tô không người trông giữ. P1 điều khiển xe chạy đến gần chỗ 03 chiếc xe mô tô đang đậu, dừng xe gần đó đợi và cảnh giới cho P lấy trộm. P đi đến đứng bên trái xe mô tô biển số 67AD-076.60, do xe khoá cổ nên dùng tay và chân đạp mạnh để mở khoá cổ, P lên xe ngồi và dùng 02 chân đẩy xe mô tô vừa trộm được về hướng N, P1 liền điều khiển xe chạy đến tiếp P đẩy xe vừa lấy trộm được chạy đi. Cùng lúc này, lực lượng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C tuần tra phát hiện P và P1 lấy trộm xe mô tô nên tiến hành bắt giữ được P cùng tang vật giao cho Công an phường C, thành phố C. Riêng, P1 điều khiển xe mô tô bỏ chạy, chiều cùng ngày P1 đến Công an phường C, thành phố C đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67AD-076.60, màu sơn xanh đen, nhãn hiệu ESPERO; 01 nón bảo hiểm màu xám có chữ NÓN SƠN; 01 áo khoác dài tay bằng vải màu xanh; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng vàng có chiều dài 19cm, mũi nhọn, đã được tháo rời thành 02 mảnh; 01 xe mô tô biển số 67K1-043.24, màu xanh đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3, màu vàng đen; 01 nón bảo hiểm màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen, phía trước ngực có chữ DIOR màu trắng.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 583/KL-GÐ ngày 26-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C xác định: 01 xe mô tô biển số 67AD-076.60, màu sơn xanh đen, nhãn hiệu ESPERO, trị giá 5.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác, yêu cầu xử lý các bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại Cáo trạng số 60/CT-VKSCĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố các bị cáo Trần Văn P, Phan Thanh P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Trần Văn P, Phan Thanh P1 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên (bút lục 46-58).
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 03 năm đến 04 năm tù. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Phan Thanh P1 từ 04 năm đến 05 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67K1-043.24 thuộc quyền sở hữu, quản lý hợp pháp của bị cáo P, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3 thuộc quyền sở hữu, quản lý hợp pháp của bị cáo P1, được các bị cáo sử dụng làm phương tiện dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu huỷ 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 áo khoác dài tay, 01 cây kéo bằng kim loại, 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 áo thun ngắn tay màu đen đã thu giữ là vật có giá trị chứng minh tội phạm, các vật này không còn giá trị sử dụng. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm và người có quyền lợi liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra để xem xét.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên; trong lời nói sau cùng, các bị cáo cũng không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 09 giờ ngày 23-3-2024 tại khu vực đường T thuộc khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, các bị cáo Trần Văn P, Phan Thanh P1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 67AD-076.60 của em Nguyễn Thái T1 dựng trước nhà số G, trị giá 5.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, trên đường tẩu thoát, bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C phát hiện bắt giữ, P1 điều khiển xe bỏ trốn sau đó đến Công an phường C, thành phố C đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo Trần Văn P, Phan Thanh P1 đã tái phạm chưa được xoá án tích về tội “Trộm cắp tài sản”, nay tiếp tục có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô của bị hại T1.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Văn P, Phan Thanh P1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng).
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo Trần Văn P, Phan Thanh P1 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ vụ lợi, với mục đích có tiền tiêu xài và mua ma tuý sử dụng. Các bị cáo là người có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không sửa đổi, cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo P là người rủ rê việc trộm cắp được bị cáo P1 đồng ý, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện tội phạm, vai trò ngang nhau nên phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; riêng bị cáo P1, sau khi bỏ trốn đã tự nguyện đến cơ quan công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên có xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ; các bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, điều này thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù với mức hình phạt có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà các bị cáo đã gây ra mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo nên Hội đồmg xét xử chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, các bị cáo thuộc thành phần lao động, không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Các vấn đề khác: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, nay không yêu cầu bồi thường gì khác; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.
[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 áo khoác dài tay bằng vải màu xanh, 01 cây kéo bằng kim loại đã được tháo rời thành 02 mảnh, 01 nón bảo hiểm màu đen và 01 áo thun ngắn tay màu đen là công cụ, trang phục của các bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nên có giá trị chứng minh tội phạm, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô biển số 67K1-043.24 thu giữ của bị cáo Trần Văn P và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3 thu giữ của bị cáo Phan Thanh P1, xe mô tô và điện thoại thuộc quyền sở hữu của các bị cáo, được bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nên đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn P, Phan Thanh P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt Trần Văn P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 23-3-2024 (ngày hai mươi ba, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt Phan Thanh P1 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 23-3-2024 (ngày hai mươi ba, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) nón bảo hiểm màu xám có chữ NÓN SƠN; 01 (một) áo khoác dài tay bằng vải màu xanh; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng vàng có chiều dài 19cm; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave, biển số 67K1-043.24; 01 một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3, màu vàng đen.
(Đặc điểm vật chứng được mô tả theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Trần Văn P, Phan Thanh P1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Phước, Phùng - TCTS
