Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/DS-ST

Ngày: 28-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Thanh Liêm
  • Bà Cao Thị Diệu Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 08 và 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 143/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-DS ngày 03/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: 1/ Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Số A ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.

2/ Bà Đỗ Thị Hồng X, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Số C N, khóm C, phường A, thành phố S, tỉnh Đ.

Người đại diện hợp pháp của ông T, bà X: Bà Nguyễn Thị Tuyết T1, sinh năm 1982 (Văn bản ủy quyền ngày 10/4/2024);

Địa chỉ: Số F, tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đ.

Bị đơn: 1/ Bà Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Số D đường T, khóm B, phường A, thành phố S, tỉnh Đ.

2/ Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Số G đường T, khóm B, phường A, thành phố S, tỉnh Đ.

(Bà Nguyễn Thị Tuyết T1 có mặt tại phiên tòa; Bà Nguyễn Thị Hoàng Y và ông Võ Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Minh T và bà Đỗ Thị Hồng X cùng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Tuyết T1 trình bày:

Do có quen biết nên ngày 01/4/2019 vợ chồng ông T, bà X có cho ông Đ, bà Y vay số tiền 4.850.000.000đ, thời hạn vay 30 ngày trả (đến ngày 01/5/2019), mục đích vay làm ăn, kinh doanh bất động sản và đáo nợ ngân hàng, lãi suất không có thỏa thuận, khi vay tiền ông Đ, bà Y có viết biên nhận nợ và ký tên. Trong biên nhận ông Đ, bà Y có cam kết nếu quá thời hạn thanh toán mà không trả được nợ sẽ giao tài sản cho ông T, bà X để trừ nợ. Khi sắp đến hạn trả nhưng ông Đ, bà Y không khả năng trả nợ nhưng cần thêm tiền làm ăn nên có vay thêm của ông T, bà X số tiền 1.500.000.000đ (không có làm biên nhận). Tổng cộng hai lần vay số tiền 6.350.000.000đ.

Do không trả được nợ, ngày 13/4/2019 ông Đ, bà Y có bàn giao tài sản cho ông T bà, X để trừ một phần nợ gồm: 01 căn nhà và toàn bộ tài sản trong nhà tại địa chỉ số F, khóm T, phường A, thành phố S; 01 xe ôtô biển kiểm soát 66A-06661; 01 xe môtô hiệu SH Mode biển kiểm soát 66S-36720, trị giá tổng tài sản bàn giao là 2.090.000.000đ. Khi bàn giao tài sản hai bên có lập biên bản bàn giao tài sản có nội dung ông Đ, bà Y thừa nhận tổng số nợ vay là 6.350.000.000đ, sau khi trừ tài sản bàn giao trị giá 2.090.000.000đ thì ông Đ, bà Y còn nợ 4.260.000.000đ. Biên bản bàn giao tài sản do ông T, bà X lập rồi đưa cho ông Đ, bà Y ký tên. Hiện nay các tài sản này đã qua tên ông T, bà X xong và đã chuyển nhượng/bán lại cho người khác.

Sau đó do ông Đ, bà Y không trả số nợ còn lại nên ông T, bà X có làm đơn thưa ở cơ quan công an. Theo biên bản đối chiếu nợ ngày 17/4/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S lập thì bà X có đồng ý cho số tiền 2.500.000.000đ, nên số nợ còn lại là 1.760.000.000đ, sau đó ngày 21/4/2019 bà Y có cấn trừ nợ của vợ chồng ông B, bà A cho bà X số tiền 500.000.000đ. Nên số nợ hiện nay còn lại là 1.260.000.000đ. Bà X thừa nhận các chữ ký trong biên bản đối chiếu và biên nhận cấn trừ nợ là của bà X.

Theo đơn khởi kiện do chưa trừ khoản tiền tặng cho 2.500.000.000đ và khoản cấn trừ 500.000.000đ của vợ chồng ông B, bà A nên nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu ông Đ, bà Y liên đới trả số tiền 4.260.000.000đ và lãi.

Tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện thay đổi yêu cầu khởi kiện: Ông Nguyễn Minh T và bà Đỗ Thị Hồng X yêu cầu bà Nguyễn Thị Hoàng Y trả cho ông T, bà X số tiền vốn vay 1.260.000.000đ, và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày khởi kiện (19/4/2024) cho đến khi Tòa án giải quyết xong. Nguyên đơn không có yêu cầu ông Đ liên đới trả nợ. Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày:

Bà Y thừa nhận có vay số tiền của ông T, bà X hai lần gồm: lần thứ nhất ngày 01/4/2019 vay số tiền 4.850.000.000đ; lần thứ hai sau lần thứ nhất nhưng không nhớ ngày tháng vay số tiền 1.500.000.000đ, tổng cộng hai lần vay số tiền 6.350.000.000đ, như nguyên đơn trình bày là đúng. Bà Y cũng thừa nhận do không trả được nợ nên có bàn giao tài sản trừ nợ gồm: 01 căn nhà và toàn bộ tài sản trong nhà tại địa chỉ số F, khóm T, phường A, thành phố S; 01 xe ôtô biển kiểm soát ông Đ vì khi bà Y vay tiền ông Đ không biết. Hiện bà Y và ông Đ đã ly hôn. Nay bà Y đồng ý cá nhân trả số tiền 1.260.000.000đ và lãi theo quy định pháp luật cho nguyên đơn. Ngoài ra, bà Y không có yêu cầu gì trong vụ kiện.

Bị đơn ông Võ Văn Đ trình bày:

Trước đây ông Đ và bà Y là vợ chồng nhưng đã ly hôn vào năm 2020. Trong thời gian ông Đ còn làm ở ngân hàng thì bà Y có vay tiền của vợ chồng ông T, bà X ông Đ không biết, đến khi bà Y bỏ đi nơi khác sinh sống, ông T, bà X đến đòi thì ông Đ mới biết bà Y thiếu nợ. Ông Đ không có vay tiền của ông T, bà X. Việc ông Đ ký tên trong biên nhận vay tiền ngày 01/4/2019 là để bàn giao tài sản trừ nợ.

Theo ông Đ bà Y là người vay tiền của ông T, bà X nên có trách nhiệm trả, ông Đ không có liên quan. Ngoài ra, ông Đ không có yêu cầu gì trong vụ kiện.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn, buộc bà Y trả cho ông T, bà X số tiền vốn vay 1.260.000.000đ và lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng từ ngày khởi kiện cho đến khi Tòa án xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Về quan hệ pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Y trả tiền vay và lãi, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng vay”.
  • - Về thẩm quyền: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Địa chỉ cư trú của bị đơn tại thành phố S nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Tại phiên tòa, ông Đ, bà Y có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Tuyết T1 đồng ý và yêu cầu Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt ông Đ, bà Y. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét thấy, qua chứng cứ nguyên đơn giao nộp và được bị đơn thừa nhận thể hiện ngày 01/4/2019 vợ chồng ông T, bà X có cho bà Y vay số tiền 4.850.000.000đ, có làm biên nhận, thời hạn 30 ngày trả, lãi suất không có thỏa thuận, mục đích vay làm ăn. Trong biên nhận có ông Đ, bà Y ký tên và cam kết nếu quá thời hạn thanh toán mà không trả nợ sẽ giao tài sản cho ông T, bà X để trừ nợ. Đối với ông Đ mặc dù thừa nhận có ký tên trong biên nhận, nhưng không thừa nhận vay tiền, mà chỉ ký tên để bàn giao tài sản trừ nợ.

Tại biên bản bàn giao tài sản ngày 13/4/2019 có nội dung ông Đ, bà Y thừa nhận tổng số nợ vay 6.350.000.000đ và thỏa thuận bàn giao tài sản để trừ nợ gồm: 01 căn nhà và toàn bộ tài sản trong nhà tại địa chỉ số F, khóm T, phường A, thành phố S; 01 xe ôtô biển kiểm soát 66A-06661; 01 xe môtô hiệu SH Mode biển kiểm soát 66S-36720, trị giá tổng tài sản bàn giao là 2.090.000.000đ.

[2.2] Như vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng biên bản bàn giao tài sản ngày 13/4/2019 phù hợp với biên nhận vay tiền ngày 01/4/2019. Mặc dù số tiền vay thêm 1.500.000.000đ không có biên nhận, nhưng tại biên bản bàn giao tài sản bà Y thừa nhận nợ tổng cộng 6.350.000.000đ, qua đó chứng tỏ rằng bà Y có vay thêm số tiền 1.500.000.000đ, quá trình giải quyết vụ án bà Y cũng thừa nhận có vay thêm 1.500.000.000đ.

Sau khi cấn trừ tài sản trả nợ trị giá 2.090.000.000đ, thì theo biên bản thể hiện số nợ còn lại là 4.260.000.000đ. Qua làm việc các đương sự thừa nhận Biên bản bàn giao tài sản do ông T, bà X lập có ông Đ, bà Y ký tên. Theo nguyên đơn sau khi các tài sản này qua tên ông T, bà X thì ông T, bà X đã chuyển nhượng/bán lại cho người khác. Các đương sự xác định không có tranh chấp các tài sản đã bàn giao.

[2.3] Các bên cũng thừa nhận rằng do bà Y không trả nợ nên ông T, bà X có làm đơn thưa ở cơ quan công an. Theo biên bản đối chiếu nợ ngày 17/4/2019 giữa bà X và bà Y của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S thì bà X có đồng ý tặng cho số tiền 2.500.000.000đ, nên số nợ còn lại là 1.760.000.000đ, sau đó ngày 21/4/2019 bà Y có cấn trừ nợ của vợ chồng ông B, bà A cho bà X số tiền 500.000.000đ. Nên số nợ hiện nay còn lại là 1.260.000.000đ. Đây là những tình tiết sự kiện được các đương sự cùng thừa nhận nên không cần chứng minh theo Điều 92 BLTTDS.

Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Vì vậy, căn cứ quy định pháp luật viện dẫn, HĐXX buộc bà Nguyễn Thị Hoàng Y phải có nghĩa vụ trả nợ 1.260.000.000đ cho ông T, bà X là phù hợp.

[3] Xét nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày khởi kiện cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ kiện theo hướng có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự (BLDS) về lãi suất, khi vay các bên không có thỏa thuận mức lãi suất, do đó áp dụng lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS là 10%/năm, tương ứng 0,83%/tháng là phù hợp. Theo đó, tiền lãi xác định là: 1.260.000.000đ x 04 tháng 09 ngày x 0,83% = 44.969.400đ. Tổng cộng vốn, lãi: 1.304.969.400đ.

[4] Đối với việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện từ số tiền 4.260.000.000đ theo đơn khởi kiện, nay tự nguyện thay đổi còn lại số tiền 1.260.000.000đ và không yêu cầu ông Đ liên đới trả nợ là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Y trả cho ông T, bà X số tiền vốn vay 1.260.000.000đ và lãi 44.969.400đ. Tổng cộng vốn, lãi: 1.304.969.400đ (Một tỷ ba trăm lẻ bốn triệu chín trăm sáu mươi chín ngàn bốn trăm đồng).

[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử thống nhất.

[7] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T và bà Đỗ Thị Hồng X.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Y trả cho ông Nguyễn Minh T và bà Đỗ Thị Hồng X số tiền vốn vay 1.260.000.000đ và lãi 44.969.400đ. Tổng cộng vốn, lãi: 1.304.969.400đ (Một tỷ ba trăm lẻ bốn triệu chín trăm sáu mươi chín ngàn bốn trăm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y nộp 51.149.000đ án phí DSST.

Ông Nguyễn Minh T và bà Đỗ Thị Hồng X được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.130.000đ theo biên lai số 0004159 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày hôm nay tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Tòa án Tỉnh;
  • - Chi cục THADS TP Sa Đéc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Minh Trí

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay

  • Số bản án: 81/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu bên a buộc bên b trả số tiền vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger