|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do, Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/DS-PT Ngày 15 tháng 7 năm 2024 V/v “Tranh chấp kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất,” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Bà Nguyễn Tuyết Mai.
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Quang Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 và ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2024/TLPT-DS ngày 07/5/2024 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 108/2024/QĐPT-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Tạ Huy T, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số F N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1957; Địa chỉ: Khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Văn T1 - Luật sư, Văn phòng L2 và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số E M, phường Đ, thành phố T, Bắc Ninh (có mặt).
- Bị đơn: 1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1982 (vắng mặt);
2. Chị Tạ Thị H1, sinh năm 1984 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn K, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Trung K và ông Cao Xuân Q, Luật sư, Công ty L3, Đoàn Luật sư H7; Cùng địa chỉ: Số A V, phường X, quận T, thành phố Hà Nội (đều có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án).
2. Bà Nguyễn Thị Phương D, luật sư, Công ty L4 chi nhánh B1; Địa chỉ: Số B phố Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số F N, phường T, thành phố B tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
2. Chị Tạ Thị N, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
3. Chị Tạ Thị H2, sinh năm 1977; Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Hiện đang cư trú tại Trung Quốc (vắng mặt).
4. Chị Tạ Thị H3, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu phố P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án).
5. Chị Tạ Thị H4, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khu phố B, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị N, chị H3, chị H4: Ông Trần Trung K và ông Cao Xuân Q, luật sư, Công ty L3, Đoàn Luật sư H7; Địa chỉ: Số A V, phường X, quận T, thành phố Hà Nội (đều có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án).
Người kháng cáo nguyên đơn ông Tạ Huy T, bị đơn chị Tạ Thị H1, anh Nguyễn Văn H,
Cơ quan kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân thị xã T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án nguyên đơn ông Tạ Huy T và người đại diện theo ủy quyền của ông T trình bày: Vợ chồng ông có quyền sử dụng và sở hữu hợp pháp thửa đất, trên thửa đất có ngôi nhà cổ 05 gian, gỗ Lim, mái lợp ngói mũi, tường xây gạch là một ngôi nhà có bề thế vững chắc ở thôn K, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, cùng các công trình sân gạch, bể nước. Nguồn gốc, năm 1984 vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của bố mẹ là cụ Tạ Huy T2 và cụ Nguyễn Thị T3 theo “Văn tự bán nhà đất”, được Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh) chứng nhận. Số tiền chuyển nhượng là 50.000 đồng, mục đích hai cụ chuyển nhượng để lấy tiền dưỡng già và phân chia cho các con.
Ông nhớ rõ việc chuyển nhượng, việc thanh toán trả tiền và việc bàn giao tài sản là công khai, tự nguyện từ cụ Tạ Huy T2 và cụ Nguyễn Thị T3 là chủ sở hữu tài sản chuyển nhượng cho vợ chồng ông, ông Tạ Huy T4 là con của hai cụ chính là người viết “Văn tự bán nhà đất” (chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất). Sau khi ông T4 viết xong văn tự, vợ chồng ông là người thực hiện nghĩa vụ trả số tiền 50.000 đồng, mọi người cùng cụ Tạ Huy T2
ký tên và cụ Nguyễn Thị T3 điểm chỉ. Những người con của hai cụ ký tên là ông Tạ Huy T5, ông Tạ Huy T4 và ông Tạ Huy T6 cùng người nhận chuyển nhượng là ông Tạ Huy T. Cụ Tạ Huy T2 và cụ Nguyễn Thị T3 sau khi nhận đủ số tiền chuyển nhượng đã bàn giao nhà đất, giao văn tự cho vợ chồng ông quản lý, sở hữu mãi mãi đúng theo nội dung văn tự.
Nhà đất trên là của vợ chồng ông, vợ chồng ông có quyền sử dụng, quyền sở hữu hợp pháp, ổn định từ ngày thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán trả tiền và nhận bàn giao tài sản, đã được UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh chứng nhận. Ngôi nhà và đất vợ chồng ông nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông vẫn để cho bố mẹ là hai cụ Tạ Huy T2 và Nguyễn Thị T3 ở đến ngày các cụ về với tiên tổ. Sau đó, vợ chồng ông cho bà Tạ Thị N1 (vợ ông Tạ Huy T5) ở nhờ khi đó các con của bà Tạ Thị N1 còn nhỏ tuổi, đến khi các con của bà Tạ Thị N1 lớn trưởng thành đi lấy chồng, do bà Tạ Thị N1 là người nhà nên vợ chồng ông không lập giấy tờ cho mượn. Khi vợ chồng ông có nhu cầu sử dụng làm nơi thờ tự và thờ cúng tổ tiên, bố mẹ, vợ chồng ông đã nhiều lần đòi lại thì bà Tạ Thị N1 khất lần.
Khoảng năm 2005, 2006, bà Tạ Thị N1 bị bệnh nặng hứa hẹn trả nhà đất cho vợ chồng ông sở hữu, sử dụng nhưng chưa trả. Khi chị Tạ Thị H1 kết hôn với anh Nguyễn Văn H đã khất, vợ chồng ông cho ở thêm thời gian để có điều kiện chuẩn bị xây dựng nhà ở khu đất mới. Nhưng đến năm 2020, chị Tạ Thị H1 cùng chồng là anh Nguyễn Văn H đã tự ý phá dỡ, hủy hoại ngôi nhà cổ 05 gian chiếm đất đai của vợ chồng ông, UBND xã N đã nhiều lần yêu cầu đình chỉ xây dựng chờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhưng chị Tạ Thị H1 và anh Nguyễn Văn H không thi hành. Lúc này vợ chồng ông mới biết bà Tạ Thị N1 ở nhờ nhà đất đã tự ý lập hồ sơ đề nghị UBND thị xã T, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) thuộc quyền quản lý sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông mà không có sự thỏa thuận của vợ chồng ông là không đúng pháp luật, không đúng đối tượng người sử dụng đất, thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ thửa đất số 252, tờ bản đồ số 4, diện tích 231m² thôn K, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (gọi tắt là thửa đất 252).
Nay, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Tạ Thị H1 trả lại ngôi nhà gỗ Lim 05 gian nằm trên đất và diện tích thửa đất số 252. Hủy Quyết định số: 185/QĐ-UB ngày 15 tháng 9 năm 1997 của UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh quyết định cấp GCNQSDĐ cho bà Tạ Thị N1. Hủy GCNQSDĐ do UBND huyện T cấp mang tên bà Tạ Thị N1 tại thửa đất số 252.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Tạ Huy T sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện và đề nghị cụ thể như sau: Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Tạ Thị H1 trả lại tài sản là ngôi nhà gỗ lim 05 gian, tường xây gạch, mái lợp ngói mũi gắn liền trên diện tích đất tại thửa đất số 252 cho vợ chồng ông bà (Tạ Huy T và Nguyễn Thị
L). Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Tạ Thị H1 phải tháo dỡ, di chuyển toàn bộ vật liệu xây dựng, khôi phục nguyên trạng ngôi nhà gỗ Lim, kiểu cổ trên đất. Công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất đối với diện tích đất đã chuyển nhượng theo Văn tự bán nhà đất ngày 08/10/1984 đã được UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh) chứng thực cho vợ chồng ông bà (Tạ Huy T và Nguyễn Thị L). Kiến nghị với UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND thị xã T, tỉnh Bắc Ninh) thu hồi GCNQSDĐ cấp cho bà Tạ Thị N1 là người không đủ điều kiện được cấp theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là “Văn tự bán nhà đất”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L đồng ý với quan điểm trình bày của nguyên đơn ông Tạ Huy T.
Bị đơn chị Tạ Thị H1 trình bày: Ông nội chị là cụ Tạ Huy T2, sinh năm 1910 chết năm 1991, cụ Nguyễn Thị X, không nhớ năm sinh và năm chết. Sinh thời khi các cụ còn sống sinh ra được 02 người con gồm: Bà Tạ Thị N2, không nhớ năm sinh và năm chết chỉ biết là liệt sỹ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp; Ông Tạ Huy T5, sinh năm 1938, chết năm 1987. Sau khi cụ X1 chết thì cụ T2 lấy cụ Nguyễn Thị T3, sinh năm 1923, chết năm 1991 và sinh được 06 người con gồm: Bà Tạ Thị C, sinh năm 1948; Ông Tạ Huy T, sinh năm 1954; Ông Tạ Huy T4, sinh năm 1957; Ông Tạ Huy T6, sinh năm 1959; Bà Tạ Thị D1, sinh năm 1964; Bà Tạ Thị L1, sinh năm 1971.
Bố chị là ông Tạ Huy T5 kết hôn với bà Nguyễn Thị T7, chị không nhớ năm sinh nhưng hiện tại bà T7 vẫn còn sống và sinh được 01 người con trai tên là Nguyễn Văn T8, sinh năm 1964. Sau khi bà Nguyễn Thị T7 đem theo anh Nguyễn Văn T8 bỏ đi thì vào năm 1973 bố chị mới kết hôn với mẹ chị là bà Tạ Thị N1, sinh năm 1943. Bố mẹ chị sinh ra được 05 người con gồm: Tạ Thị N, sinh năm 1973; Tạ Thị H2, sinh năm 1977; Tạ Thị H3, sinh năm 1983; Tạ Thị H1, sinh năm 1984; Tạ Thị H4, sinh năm 1986.
Sau đó, ông nội chị có phân chia cho bố chị 01 thửa đất trong làng có diện tích khoảng hơn 200m². Thửa đất này chính là thửa đất số 252. Năm 1997, cấp GCNQSDĐ mang tên bà Tạ Thị N1. Năm 2006, bà Tạ Thị N1 chết thì 05 chị em đã bàn bạc và thống nhất tạm giao cho vợ chồng chị (Tạ Thị H1 và Nguyễn Văn H) quản lý, sử dụng nhưng không được quyền định đoạt thửa đất nêu trên. Kể từ khi bố mẹ chị cùng toàn thể gia đình về sinh sống tại thửa đất nêu trên cho đến nay thì đều sinh sống hòa thuận với hàng xóm láng giềng cũng như trong nội bộ gia đình, chấp hành nộp đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và không có tranh chấp với ai.
Đến tháng 6/2020 do công trình nhà ở các cụ xây dựng đã lâu và bị xuống cấp, tre gỗ bị mối mọt, phần mái ngói bị tụt không còn sử dụng được nữa nên chị em chị đã thống nhất phá bỏ, tháo dỡ toàn bộ công trình để xây dựng lại. Khi tiến hành tháo dỡ công trình thì vợ chồng ông Tạ Huy T và bà Nguyễn Thị L đã có đơn yêu cầu UBND xã N lập biên bản đình chỉ xây dựng công trình, đồng thời đòi lại đất cùng toàn bộ công trình trên đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của chị là người thừa kế hợp pháp theo quy định của pháp luật. Chị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T, vì:
Thứ nhất: Thửa đất số 252 được gia đình chị sử dụng ổn định từ năm 1986. Trong quá trình sử dụng gia đình chị đã nhiều lần tu sửa, cụ thể: Thay đổi kết cấu ngôi nhà, sửa chữa sân, thềm... nhưng vợ chồng ông Tạ Huy T và bà Nguyễn Thị L không có bất cứ ý kiến gì. Đến năm 1997 thửa đất này đã được mẹ chị bà Tạ Thị N1 làm thủ tục đăng ký và được cấp GCNQSDĐ. Trong suốt quá trình thôn K và UBND xã N thẩm tra, thẩm định và niêm yết công khai danh sách thì vợ chồng ông Tạ Huy T và bà Nguyễn Thị L cũng không có bất cứ ý kiến gì liên quan đến việc xem xét cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất này.
Thứ hai: Văn tự bán nhà đất ngày 08/10/1984 do ông Tạ Huy T đã xuất trình là giấy tờ giả mạo, bởi lẽ: Ông nội chị cụ Tạ Huy T2 chết năm 1991 chưa ký vào văn tự bán đất và cụ Nguyễn Thị T3 chết vào năm 1991 là người không biết chữ. Ngoài ra, trong văn tự còn có chữ ký của bố chị ông Tạ Huy T5 chết năm 1987 là không đúng sự thật vì bố chị cũng là người không biết chữ nên không thể ký được. Ông Tạ Huy T6 là chú ruột chị không hề biết đến văn tự này nên không thể ký vào trong văn tự, bản thân chú chị ông Tạ Huy T6 cũng khẳng định chữ ký “Tổ” và “Tạ Huy T6” trong đó là giả mạo. Hơn nữa, chị cũng đã hỏi toàn bộ các cô, chú trong gia đình có tên trong văn tự và họ đều hoàn toàn không biết về nội dung bản Văn tự này.
Ngoài ra, số tiền 50.000 đồng mà vợ chồng ông Tạ Huy T và bà Nguyễn Thị L trình bày đã trả thì trả cho ai, ai là người nhận và ai là người chứng kiến, không có giấy biên nhận tiền. Ông Tạ Huy T cho rằng có Văn tự mua bán nhà đất này thì tại sao không kê khai, không đăng ký vào sổ địa chính của UBND xã N khi đã được ông nội chị cụ Tạ Huy T2 và cụ Nguyễn Thị T3 bán cho. Không những vậy, khi ông nội chị cụ Tạ Huy T2 và cụ Nguyễn Thị T3 còn sống thì tại sao ông Tạ Huy T không công khai văn tự mua bán này và yêu cầu thực hiện theo đúng văn tự.
Thứ ba: Trong nội dung đơn khởi kiện ông Tạ Huy T có trình bày là cho gia đình chị mượn đất để ở nhờ tại thửa đất hiện đang xảy ra tranh chấp này là hoàn toàn bịa đặt, gian dối, không có giấy tờ gì để chứng minh và cũng không có ai làm chứng. Từ khi chị được sinh ra, lớn lên ở trên mảnh đất này cho đến nay cũng
chưa bao giờ thấy ai từng nói đến việc vợ chồng ông Tạ Huy T và bà Nguyễn Thị L đã mua ngôi nhà và thửa đất này sau đó cho gia đình chị mượn để ở.
Thứ tư: Ông Tạ Huy T4 cho biết Văn tự bán nhà đất ghi ngày 08/10/1984 trên thực tế là biên bản do ông Tạ Huy T4 tự viết nhưng bố chị là ông Tạ Huy T5 không đồng ý vì đất này đã được cụ Tạ Huy T2 và cụ Nguyễn Thị T3 cho bố mẹ chị để ở và sử dụng. Do bố chị không đồng ý nên trong anh em có xảy ra xung đột, bố chị có đuổi đánh ông Tạ Huy T4 và trong lúc xảy ra lộn xộn thì ông Tạ Huy T có nhặt Văn tự này, Văn tự này khi đó chưa có bất kỳ ai ký vào.
Thứ năm: Thửa đất số 252 đã được cấp GCNQSDĐ cho mẹ của chị bà Tạ Thị N1. Nay bà Tạ Thị N1 đã chết nên chị em chị gồm: Tạ Thị N, Tạ Thị H2, Tạ Thị H3, Tạ Thị H1 và Tạ Thị H4 là những người thừa kế hợp pháp theo quy định của pháp luật. Tài sản công trình được xây dựng trên thửa đất này là do chị em chị bỏ tiền riêng và công sức ra để xây dựng nên không liên quan gì đến chồng chị anh Nguyễn Văn H.
Từ những lý do nêu trên, chị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tạ Huy T và đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh xem xét, xác minh và làm rõ hành vi giả mạo Văn tự bán nhà đất ngày 08/10/1984 do ông Tạ Huy T cung cấp nhằm chiếm đoạt tài sản là nhà và đất của gia đình chị đã được ông nội chị cụ Tạ Huy T2 và cụ Nguyễn Thị T3 cho bố mẹ chị ở và sử dụng. Đồng thời, chị cũng đề nghị Tòa án hủy bỏ Văn tự bán nhà đất ngày 08/10/1984 theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho chị em chị.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Toàn bộ diện tích đất 231m² thuộc thửa đất số 252 cùng tài sản trên thửa đất nêu trên đứng tên bà Tạ Thị N1 sau khi chết để lại cho chị Tạ Thị H1 và các em là chị Tạ Thị N, chị Tạ Thị H2, chị Tạ Thị H5 cùng chị Tạ Thị H4. Về nguồn gốc diện tích đất cùng toàn bộ tài sản trên thửa đất này thì anh không rõ. Anh chỉ biết là sau khi chị lấy chị Tạ Thị H1 vào năm 2006 thì bà Tạ Thị N1 đã sử dụng thửa đất này. Sau khi bà Tạ Thị N1 chết, do nhà cửa xuống cấp nên chị H1 cùng các chị em đã bỏ tiền riêng ra để sửa chữa tu bổ nên mới có khối tài sản như hiện nay. Anh khẳng định không có bất cứ liên quan gì đến thửa đất cùng toàn bộ tài sản trên thửa đất này, nhưng hiện tại vợ chồng anh cùng các con đang sử dụng và quản lý. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Tạ Huy T, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho chị Tạ Thị H1 cùng các chị em của chị H1
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tạ Thị N, chị Tạ Thị H2, chị Tạ Thị H5, chị Tạ Thị H4 đồng ý với quan điểm trình bày của bị đơn chị Tạ Thị H1 và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tạ Huy T.
Người làm chứng ông Tạ Huy T4 trình bày: Do thời bao cấp năm 1984, gia đình ông Tạ Huy T5 và bà Tạ Thị N1 rất đói khát, các cháu ốm yếu sắp chết. Ông có ra nhà ông Tạ Huy T5, bà Tạ Thị N1 xem thấy hoàn cảnh như vậy nên ông đã ra nhà cụ Tạ Huy T2 và cụ Nguyễn Thị T3 là các cụ thân sinh ra ông nói rõ hoàn cảnh của gia đình ông Tạ Huy T5, bà Tạ Thị N1. Trong lúc ngồi bàn bạc cụ Tạ Huy T2 có nói đã bán nhà đất các cụ đang ở cho vợ chồng ông Tạ Huy T5, nhưng do ông Tạ Huy T5 cờ bạc, rượu chè nên cần phải giữ gìn cho gia đình ông Tạ Huy T5. Khi bàn về việc này chỉ có mặt ông, cụ Tạ Huy T2 và ông Tạ Huy T là ba người ngồi bàn bạc vì gia đình ông Tạ Huy T5 đằng nào cũng phải cho tiền để cứu đói nên ba bố con làm một biên bản giả tạo, ba anh em trai ký vào để mục đích giữ lại khu nhà đất này. Trong lúc ba người ngồi bàn bạc và viết gần xong Văn tự bán nhà đất thì cụ Tạ Huy T2 bảo ông vào mời ông Tạ Huy T5 ra để nói chuyện. Sau đó, ông vào đèo ông Tạ Huy T5 bằng xe đạp ra nhà cụ Tạ Huy T2 ngồi nói chuyện về Văn tự bán nhà đất thì ông Tạ Huy T5 không đồng ý nói tài sản này là tài sản riêng của mẹ ông Tạ Huy T5 là cụ Nguyễn Thị X (đã chết) để lại.
Do bản thân ông Tạ Huy T5 là người nghiện rượu chè, tù đầy về nên ông rất sợ, ông Tạ Huy T5 đã cầm dao và ném tích chén vào người ông nên ông và ông Tạ Huy T bỏ chạy ra khỏi nhà cụ Tạ Huy T2. Thời điểm đó, nội dung Văn tự bán nhà đất ông chưa viết xong vì cụ Nguyễn Thị T3 đi làm đồng, các thành viên khác trong gia đình đi vắng hết nên Văn tự bán nhà đất bỏ dở chưa ai ký. Trước lúc bỏ chạy do bị ông Tạ Huy T5 cầm dao đuổi, ông đã vo viên Văn tự bán nhà đất viết dở đó cho vào đít đỉnh đồng nhà cụ Tạ Huy T2. Ông khẳng định Văn tự bán nhà đất này chưa viết xong và chưa ai ký kể cả cụ Tạ Huy T2, ông và ông Tạ Huy T. Sau khi bỏ chạy ông Tạ Huy T đã quay lại lấy Văn tự bán nhà đất này và giả tạo chữ ký vào Văn tự bán nhà đất. Cụ Tạ Huy T2, cụ Nguyễn Thị T3, ông, ông Tạ Huy T5 chưa ký vào văn tự bán đất và ông Tạ Huy T6 thời điểm đó không có mặt nên ông Tạ Huy T6 không biết sự việc cũng như không thể ký vào Văn tự bán nhà đất.
Người làm chứng ông Tạ Huy T6 trình bày: Anh ruột ông là ông Tạ Huy T5 (đã chết năm 1987), chị dâu ông là bà Tạ Thị N1 (đã chết năm 2006) được bố mẹ ông là cụ Tạ Huy T2 và cụ Nguyễn Thị T3 (đều đã chết năm 1991) phân chia cho 01 thửa đất có gắn liền ngôi nhà ngói 05 gian trên đất ở khu trong làng, gia đình ông Tạ Huy T5 đã sinh sống ổn định đến nay đã hơn 60 năm. Sau khi ông Tạ Huy T5 và bà Tạ Thị N1 chết để lại thửa đất này cho gia đình chị Tạ Thị H1 (là con đẻ của ông Tạ Huy T5 và bà Tạ Thị N1) quản lý sử dụng. Thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ vào năm 1997. Do công trình nhà ở xây dựng đến nay đã qua nhiều năm tháng, lâu ngày nên toàn bộ tre, gỗ của phần mái nhà đã bị mối mọt, mái ngói bị sụt không thể sử dụng được nên tháng 6/2020, gia đình Tạ Thị H1 đã phá dỡ
công trình để xây dựng lại. Khi tiến hành tháo dỡ công trình thì vợ chồng ông Tạ Huy T, bà Nguyễn Thị L đã có đơn đề nghị UBND xã N đình chỉ xây dựng và có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân. Ông khẳng định Văn tự bán nhà đất ngày 08/10/1984 do ông Tạ Huy T cung cấp cho Tòa án có xác nhận của UBND xã N là giấy tờ giả mạo. Bởi lẽ:
Thứ nhất, bố ông cụ Tạ Huy T2 đã chết năm 1991 chưa ký vào Văn tự, mẹ ông cụ Nguyễn Thị T3 cũng đã chết năm 1991 là người không biết chữ.
Thứ hai, trong Văn tự có chữ ký của anh ruột ông là ông Tạ Huy T5 đã chết năm 1987 là không đúng sự thật.
Thứ ba, trong Văn tự còn có cả chữ ký của ông là người chưa từng biết đến Văn tự là hoàn toàn giả mạo, không phải chữ là chữ ký của ông.
Thứ tư, ông cũng đã hỏi toàn bộ các anh chị em ruột trong gia đình có tên trong Văn tự thì mọi người đều hoàn toàn không biết về nội dung Văn tự này.
Thứ năm, số tiền 50.000 đồng mà vợ chồng ông Tạ Huy T9, bà Nguyễn Thị L đã trả thì trả cho ai, ai là người nhận và ai là người chứng kiến vì không có giấy biên nhận tiền.
Thứ sáu, tại sao việc mua bán diễn ra từ ngày 08/10/1984 mà trong gia đình không ai được biết, tại sao ông Tạ Huy T, bà Nguyễn Thị L lại không làm thủ tục đăng ký vào sổ địa chính của UBND xã N và tại sao trong khi cụ Tạ Huy T2, cụ Nguyễn Thị T3 còn sống ông Tạ Huy T, bà Nguyễn Thị L lại không đề nghị thực hiện theo nội dung Văn tự được ký kết mà để cho gia đình ông Tạ Huy T5, bà Tạ Thị N1 cùng gia đình cháu Tạ Thị H1 được sinh sống ổn định từ trước đến nay.
Thứ bảy, việc xác nhận của ông Vũ Văn H6, N3 Phó chủ tịch UBND xã N vào Văn tự bán nhà đất ngày 08/10/1984 là không đúng thẩm quyền của Phó chủ tịch, nội dung xác nhận hoàn toàn không đúng với quy định của pháp luật như: Không có vị trí, địa điểm, ranh giới của thửa đất theo sơ đồ địa chính tại thời điểm xác nhận.
Thứ tám, tại Văn bản số: 678/KL-KTHS ngày 13/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B đã kết luận chữ ký “Tổ” và chữ viết “Tạ Huy T6” trong Văn tự bán nhà đất ngày 08/10/1984 không phải là chữ ký và chữ viết của ông.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là thửa đất số 252, kết quả: Giá trị đất theo diện tích đất được cấp theo GCNQSDĐ là 231m² = 1.386.000.000 đồng (giá trị đất theo diện tích đất đo đạc thực tế là 321 m²= 1.926.000.000 đồng).
Tổng giá trị tài sản là đất theo GCNQSDĐ = 1.625.486.015 đồng.
Tổng giá trị tài sản là đất (theo kết quả đo đạc thực tế) và tài sản trên đất 2.165.486.015 đồng.
Đồng thời, Tòa án đã trưng cầu giám định chữ ký “Tổ”, chữ viết “Tạ Huy T6” trong Văn tự bán nhà đất ngày 08/10/1984 theo đề nghị của bị đơn chị Tạ Thị H1, kết quả: Không đủ cơ sở kết luận chữ ký, chữ viết đứng tên Tạ Huy T6 trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Tạ Huy T6 trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu từ M1 đến M13) có phải do cùng một người ký, viết ra không.
Từ những nội dung trên Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành đã căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 160, Điều 161, Điều 162, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 184, Điều 185, khoản Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 155, Điều 158, Điều 160; Điều 161, Điều 166, Điều 500, Điều 501, Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015; Tiểu mục 2.2 mục 2 phần II của Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Điều 49 Luật đất đai năm 1987, Điều 73 Luật đất đai năm 1993, khoản 4 Điều 4, Điều 105 Luật đất đai năm 2003, Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Mục 26 Điều 1 Nghị định số: 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ về việc sử đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tạ Huy T.
Công nhận quyền sử dụng thửa đất số 252, tờ bản đồ số 4, diện tích 231m² (diện tích đo đạc thực tế 321m²) ở thôn K, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh cho nguyên đơn ông Tạ Huy T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L.
Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn H và chị Tạ Thị H1 cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tạ Thị N, chị Tạ Thị H2, chị Tạ Thị H3, chị Tạ Thị H4 phải trả cho nguyên đơn ông Tạ Huy T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L thửa đất số 252, tờ bản đồ số 4, diện tích 231m² (diện tích đo đạc thực tế 321m²) cùng toàn bộ tài sản trên thửa đất ở thôn K, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Có sơ đồ kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất kèm theo và là bộ phận không thể tách rời của bản án.
Buộc nguyên đơn ông Tạ Huy T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L phải trả cho bị đơn anh Nguyễn Văn H, chị Tạ Thị H1 cùng những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Tạ Thị N, chị Tạ Thị H2, chị Tạ Thị H3, chị Tạ Thị H4 số tiền 400.000.000 (Bốn trăm triệu đồngĐ.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật nguyên đơn ông Tạ Huy T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc điều chỉnh bản đồ địa chính, làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với thửa đất được giao sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 18 tháng 3 năm 2024, bị đơn chị Tạ Thị H1 và anh Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 25 tháng 3 năm 2024, nguyên đơn ông Tạ Huy T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Ngày 27 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành kháng nghị bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh giữ nguyên Quyết định kháng nghị. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu: Văn tự chuyển nhượng nhà đất có xác nhận của UBND xã N thể hiện cụ T2 và cụ T3 là người có quyền sở hữu nhà đất. Việc chuyển nhượng cho ông T có hiệu lực từ khi được UBND xã xác nhận, ông T bà L không phải chứng minh quyền sử dụng đất vì đã được UBND xã chứng thực. Quá trình sử dụng, năm 1997 ông T có cho bà N1 ở nhờ trên thửa đất, việc cho ở nhờ các bên chỉ thỏa thuận bằng miệng vì có quan hệ gia đình. Bà N1 chết năm 2006, sau đó ông T nhiều lần yêu cầu chị H1 là con của bà N1 đang sinh sống trên đất trả lại ông, nhưng chị H1 không trả. Khi phát sinh tranh chấp ông mới biết việc thửa đất được cấp có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ cho hộ bà N1. Đến năm 2020, chị H1 phá dỡ ngôi nhà gỗ lim 5 gian trên đất, UBND xã đã hai lần lập biên bản yêu cầu chị H1 dừng ngay việc tháo dỡ ngôi nhà cũ. Việc chị H1 tự ý phá dỡ ngôi nhà 5 gian trên đất đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của ông T. Tại phiên tòa phúc thẩm ông T xác định giá trị của ngôi nhà gỗ 5 gian có giá trị là 1 tỷ đồng. Do đó ông T kháng cáo, yêu cầu chị H1, anh H phải khôi phục lại hiện trạng ngôi nhà gỗ 5 gian để trả cho ông và buộc anh chị phải phá dỡ các công trình xây dựng trái phép trên thửa đất của ông T. Ngoài ra, ông T kháng cáo không đồng ý với việc trích trả số
tiền 400.000.000 đồng cho bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Từ những căn cứ trên người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của ông T, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà L đồng ý với phần tranh luận của luật sư T1, không tranh luận bổ sung.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn luật sư Q tranh luận: Cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xét xử vụ án không đúng thẩm quyền. Bà H2 là người liên quan có hộ khẩu tại thị xã T, nhưng các văn bản xác nhận của cơ quan tổ chức nước ngoài xác nhận chị H2 đang sinh sống tại Trung Quốc. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành xét xử vụ án là không đúng quy định. Về thủ tục tố tụng: Bản án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất là không đúng quy định, không đưa các con của cụ T2, cụ T3 vào tham gia tố tụng đã làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của họ. Về nội dung: Bản án sơ thẩm công nhận văn tự bán đất có hiệu lực là trái quy định của luật đất đai. Bản văn tự mà nguyên đơn đưa ra không có chữ ký của cụ T2, các con cụ T2 và cũng không xác định được điểm chỉ có phải là của cụ T3 hay không. Việc xác nhận văn tự là không đúng vì theo xác minh thời điểm năm 1984 không có ai là ông Vũ H6 được UBND cho quyền xác nhận văn tư bán đất, pháp luật đất đai thời điểm đó nghiêm cấm phát canh, thu tô, chuyển nhượng đất dưới mọi hình thức. Do vậy đây là giao dịch trái pháp luật và bị vô hiệu. Quá trình sử dụng đất hộ bà N1 đã sử dụng và sinh sống trên đất hơn 50 năm, có đóng thuế sử dụng đất và được cấp GCNQSDĐ đại trà công khai tại UBND xã. Mặt khác ông T trình bày việc mua đất nhưng nhiều lần gia đình bà N1 tu sửa nhà nhưng không có ý kiến gì, đến năm 2020 khi chị H1 xây dựng nhà mới thì các bên mới phát sinh tranh chấp. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy bản án sơ thẩm.
Luật sư D1 đồng ý với quan điểm của luật sư Q và bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm đã đưa thiếu người tham gia tố tụng là người con của cụ T2, cụ T3. Mặt khác khi xem xét đến GCNQSDĐ Tòa án cần phải đưa UBND thị xã T tham gia tố tụng mới đảm bảo quy định. Ngoài ra, chị H2 là người liên quan hiện đang sinh sống ở
nước ngoài nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành xét xử vụ án là không đúng quy định.
Luật sư K đồng ý với quan điểm của luật sư Q, luật sư D1 và bổ sung: Luật sư của nguyên đơn mặc nhiên cho rằng ông T có quyền sở hữu đối với thửa đất 252 căn cứ vào văn tự bán đất là không có căn cứ vì đây là giao dịch trái pháp luật.
Chị H1 trình bày, thửa đất là nơi chị sinh ra và lớn lên, là nơi ở chung duy nhất của gia đình chị. Ông T trình bày cho gia đình bà N1 ở nhờ, có nhiều lần đến đòi nhưng gia đình chị không trả là không có căn cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát cho rằng: Cấp sơ thẩm đã có những vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án khi xác định sai quan hệ tranh chấp. Vì đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng thửa đất 252 nên quan hệ tranh phải là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án, các tài liệu chị H2 gửi về có trong hồ sơ vụ án thể hiện chị đang sinh sống tại Trung Quốc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Đối với văn tự chuyển nhượng nhà đất thì không có căn cứ để xác định những người có tên trong văn tự đã ký vào văn tự bởi lẽ, cụ T2 là một bên trong giao dịch nhưng không có chữ ký của cụ, đối với điểm chỉ của cụ T3 cũng vậy không có cơ sở để xác định đây là điểm chỉ của cụ. Đối với chữ ký của ông T5, ông T6 cũng không có cơ sở xác định chữ ký này là của các ông. Căn cứ duy nhất được xác định là xác nhận của UBND xã N nhưng thời điểm đó ông H6 ký xác nhận trình bày không chứng kiến việc các bên ký vào văn tự. Mặt khác những người cao niên sinh sống ở gần thửa đất xác nhận hộ bà N1 sinh sống trên đất không có tranh chấp với ai. Đến năm 1997, hộ bà N1 được cấp GCNQSDĐ do địa phương cấp đại trà. Việc ông T cho rằng mua đất và cho bà N1 ở nhờ là không có căn cứ. Do đó, bản án sơ thẩm căn cứ vào quy định của bộ luật dân sự, luật đất đai để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là không đúng quy định. Từ những căn cứ trên đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết lại theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Tạ Thị H1, anh Nguyễn Văn H, ông Tạ Huy T nộp trong hạn luật định đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ là kháng cáo hợp lệ, đồng thời kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành thì thấy:
Thứ nhất, về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn, Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Tạ Huy T sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề cụ thể như sau: Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Tạ Thị H1 trả lại tài sản là ngôi nhà gỗ lim 05 gian, tường xây gạch, mái lợp ngói mũi gắn liền trên diện tích đất tại thửa đất số 252 cho vợ chồng ông bà (Tạ Huy T và Nguyễn Thị L). Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Tạ Thị H1 phải tháo dỡ, di chuyển toàn bộ vật liệu xây dựng, khôi phục nguyên trạng ngôi nhà gỗ Lim, kiểu cổ trên đất. Công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất đối với diện tích đất đã chuyển nhượng theo Văn tự bán nhà đất ngày 08/10/1984 đã được UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND xã N, thị xã T) chứng thực cho vợ chồng ông bà.
Việc bản án sơ thẩm đã xác định lại quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” là chưa phù hợp với yêu cầu khởi kiện của đương sự và các tài liệu chứng cứ kèm theo. Kháng nghị của Viện kiểm sát cho rằng đối tượng đang tranh chấp là thửa đất số 252 nên quan hệ tranh chấp phải là “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có nhiều yêu cầu, trong đó có yêu cầu liên quan tới việc xác định ai là người có quyền sử dụng thửa đất số 252, có yêu cầu liên quan đến đòi lại tài sản trên đất là ngôi nhà gỗ lim (mà đương sự xác định là mình là người sở hữu) có giá trị 1 tỷ đồng. Nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp quyền sử dụng đất và kiện đòi tài sản”. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát về nội dung này là có căn cứ nên được chấp nhận.
Thứ hai, về thẩm quyền: Bị đơn anh Nguyễn Văn H và chị Tạ Thị H1 đều có địa chỉ tại thôn K, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại địa chỉ trên nên Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp
sơ thẩm và đơn kháng cáo của bị đơn chị H1, anh H cho rằng chị Tạ Thị H2 hiện đang sinh sống tại Trung Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Theo các biên bản lấy lời khai ngày 22/12/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành đối với chị H1, chị N, chị H4 đều xác định chị Tạ Thị H2 hiện đang sinh sống tại Trung Quốc nhưng các đương sự cũng không cung cấp được địa chỉ chính xác của chị H2 ở nước ngoài. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã không tiến hành xác minh làm rõ nội dung này và đưa chị H2 vào tham gia tố tụng (các văn bản tố tụng đều không thể hiện chị H2 tham gia tố tụng). Đến tháng 10/2023, cấp sơ thẩm mới tiến hành xác minh tại Cục Q1, Bộ C1 và Phòng Q2, Công an tỉnh B, đồng thời đưa chị Tạ Thị H2 vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H2 có gửi tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp (kèm theo bản dịch và đơn kiến nghị khẩn cấp) thể hiện chị đang sinh sống tại Trung Quốc (bút lục từ 212 đến 214 và bút lục từ 442 đến 465) như: Bản hộ chiếu của chị Tạ Thị H2 cấp ngày 22/8/2023 do quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài cấp, T10 tại Q gửi Cục Q1 Sở công an tỉnh H, Trung Quốc; Giấy xác nhận của Tổ thôn D, ủy ban thôn H, thị trấn T, quận T, thành phố H (bản chính bút lục 460); phiếu đăng ký chỗ ở cho người nước ngoài có xác nhận của Đồn cảnh sát M, phân cục khu phát triển, Công an thành phố H, ngoài ra còn một số tài liệu, chứng cứ khác. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Tạ Thị H2 có mặt trình bày về việc chị sinh sống ở Trung Quốc từ năm 1995. Nhưng cấp sơ thẩm không tiến hành tạm ngừng phiên tòa để xác minh làm rõ quá trình sinh sống của chị H2 ở nước ngoài để xác định thẩm quyền giải quyết vụ án là không phù hợp với quy định.
Việc Tòa cấp sơ thẩm không đưa chị H2 vào tham gia tố tụng để thực hiện các thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng cũng như lấy lời khai của chị H2 cũng như căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do chị H2 cung cấp cũng như diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng thời điểm Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành thụ lý vụ án ngày 17/8/2020 có cơ sở để xác định thời điểm trước khi Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành thụ lý và giải quyết vụ án chị Tạ Thị H2 đang sinh sống tại Tổ thôn D, ủy ban thôn H, thị trấn T, quận T, thành phố H. Trong trường hợp này, tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành phải xác định chị H2 là người đang cư trú ở nước ngoài và làm thủ tục chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại Điều 36, 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Kháng cáo của chị H1, anh H về thẩm quyền giải quyết vụ án là có căn cứ.
Thứ ba, về việc xác định và đưa người tham gia tố tụng trong vụ án: Chị H1 anh H kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người con của cụ T3, cụ T2 là ông T6, ông T4, bà L1, bà D1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vì họ là hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3, cụ T2, đồng thời có liên quan tới văn tự bán nhà. Bản án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” và nhận định quan hệ tranh chấp không phải là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Tạ Huy T4, ông Tạ Huy T6, bà Tạ Thị L1, bà Tạ Thị D1 cùng ông Vũ Văn H6 là những người có tên và ký xác nhận trong Văn tự bán nhà đất vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp. Tuy nhiên, do xác định quan hệ tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất là không phù hợp với nội dung vụ án. Nên cấp sơ thẩm đã có thiếu sót trong việc xác định và đưa những người con của cụ T2, cụ T3 vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Đối với những người con của cụ T2 và cụ T3: Nguyên đơn yêu cầu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất đối với diện tích đất do cụ T2 và cụ T3 đã chuyển nhượng theo Văn tự bán nhà đất lập ngày 08/10/1984. Văn tự bán nhà đất lập năm 1984 là tài liệu quan trọng mà nguyên đơn đưa ra để xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Nguyên đơn xác định tài sản đang tranh chấp là của cụ T2 và cụ T3 đã chuyển nhượng. Tuy nhiên, tại thời điểm giải quyết tranh chấp, cụ T2 và cụ T3 đã chết nên để xem xét giải quyết toàn diện vụ án và không phát sinh các tranh chấp sau này liên quan tới thửa đất 252 thì phải đưa những người con của cụ T2 và cụ T3 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Kháng cáo của chị H1, anh H về việc bản án sơ thẩm không đưa những người con của cụ T3, cụ T2 vào tham gia tố tụng là có căn cứ.
Thứ tư, về quá trình sử dụng đất và cấp GCNQSDĐ: Bị đơn chị H1 trình bày, ông nội chị có phân chia cho bố chị 01 thửa đất trong làng có diện tích khoảng hơn 200m². Thửa đất này chính là thửa đất số 252, tờ bản đồ số 4 có diện tích 231m² đã được cấp GCNQSDĐ đứng tên mẹ chị là bà Tạ Thị N1 vào năm 1997. Tuy nhiên, tại đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ lập năm 1996 đứng tên chủ sử dụng đất là bà N1 lại không ghi rõ nguồn gốc do nhận chuyển nhượng, thừa kế, do cha ông để lại hoặc nguồn gốc hợp pháp khác mà lại ghi B đồ 231. Như vậy, việc xác định nguồn gốc trong quá trình cấp GCNQSDĐ cho hộ bà N1 là chưa đầy đủ và rõ ràng. Mặc dù các đương sự không yêu cầu hủy GCNQSDĐ
nhưng Bản án sơ thẩm công nhận ông Tạ Huy T và bà Nguyễn Thị L được quyền sử dụng thửa đất số 252 được cấp GCNQSDĐ cho hộ bà Tạ Thị N1. Khi xem xét giải quyết vụ cần phải xem xét đến việc cấp GCNQSDĐ cho hộ bà N1 có đầy đủ thủ tục và đúng quy định hay không. Do đó, căn cứ tiểu mục 3, mục III, công văn số 196/TANDTC-PC về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trông công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao thì cấp sơ thẩm phải đưa UBND thị xã T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để xem xét, đánh giá quá trình cấp GCNQSDĐ để quyết định hủy GCNQSDĐ hoặc kiến nghị thu hồi GCNQSDĐ nếu có căn cứ, mặc dù phía nguyên đơn yêu cầu kiến nghị thu hồi GCNQSDĐ mà không yêu cầu hủy GCNQSDĐ.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, xét thấy do cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp dẫn đến việc bản án sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3, cụ T2 và UBND thị xã T tham gia với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đồng thời, trong vụ án có yếu tố nước ngoài nên đã làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự, do đó, cần phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử lại theo quy định. Do bản án sơ thẩm bị hủy nên các nội dung kháng cáo của các đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát khác của vụ án sẽ được Tòa án có thẩm quyền xem xét khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và chi phí giám định:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và chi phí giám định: Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và chi phí giám định sẽ được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 37, khoản 3 Điều 308, 310 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử lại vụ án theo
thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và chi phí giám định:
2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và chi phí giám định sẽ được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2.2. Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại anh Nguyễn Văn H và chị Tạ Thị H1 300.000 đồng theo biên lai thu thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0003333 ngày 16/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 81/2024/DS-PT ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất
- Số bản án: 81/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất giua Nguyên đơn: Ông Tạ Huy Tình, sinh năm 1954; Bị đơn: 1. Anh Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1982
