Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/DSST

Ngày: 6/9/2024

V/v: “Yêu cầu thực hiện

nghĩa vụ thanh toán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kình và ông Nguyễn Văn Hoà

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Cán bộ TAND quận Hoàn Kiếm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 6 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 99/2024/TLST- DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST- DS ngày 19 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 113/2024/QĐST-HPT ngày 9 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 113a/2024/QÐST-HPT ngày 19/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Âu Quốc T, sinh năm 1971; Trú tại: Số nhà G, Tổ H, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Quốc K.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Thị T1 – Luật sư Công ty L1 Hà Nội.

- Bị đơn: Công ty cổ phần B. Trụ sở: Tầng D, tòa nhà S, số A phố H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên hệ: Tòa nhà S - Số C L, phố B, quận H, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Cao Thị Liên H – Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Doãn Thành L – Nhân viên công ty.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Công ty TNHH M. Trụ sở: Số I đường H, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí T2 – Chủ tịch HĐTV.

(Có mặt: Ông Âu Quốc T, ông Nguyễn Quốc K, Luật sư Phạm Thị T1, ông Doãn Thành L; Vắng mặt: Ông Nguyễn Chí T2).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Ngày 21/7/2021, ông Âu Quốc T và Công ty Cổ phần B (sau đây gọi tắt là “Công ty B”) đã ký kết Văn bản thỏa thuận số T072002/SMT/NST với các nội dung chính như sau:

  • + Công ty B giới thiệu, tư vấn cho ông Âu Quốc T các thông tin về bất động sản tại Dự án Công viên Đại dương H do Công ty TNHH M là chủ đầu tư “Dự Án”, phù hợp với thông tin bản đăng ký nguyện vọng đính kèm “Bản Đăng Ký”.
  • + Công ty B tư vấn, hỗ trợ các thủ tục liên quan để ông Âu Quốc T mua bất động sản tại dự án phù hợp với nhu cầu, mong muốn của ông Âu Quốc T tại Bản đăng ký.
  • + Công ty B cam kết cung cấp đầy đủ thông tin về dự án cho ông Âu Quốc T trên cơ sở những thông tin được cung cấp và cho phép công bố bởi Chủ đầu tư.
  • + Mức phí dịch vụ là 150.000.000 đồng
  • + Công ty B cam kết thực hiện các thủ tục cần thiết để bảo đảm tìm được bất động sản theo nguyện vọng của ông T và xúc tiến các thủ tục hợp lý để ông T được ký kết hợp đồng mua bán bất động sản hoặc văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán bất động sản và thực hiện các thủ tục với Chủ đầu tư hoặc bên thứ ba có quyền sở hữu bất động sản để hoàn tất thủ tục nhận chuyển nhượng bất động sản dự kiến vào ngày 30/6/2022. Thời gian ký hợp đồng giao dịch thực tế có thể tước hoặc sau trong khoảng 180 ngày so với thời gian ký hợp đồng giao dịch dự kiến. Trường hợp quá 180 ngày kể từ thời gian ký hợp đồng giao dịch dự kiến với điều kiện ông T thực hiện đầy đủ và đúng hạn các nghĩa vụ tài chính theo văn bản thoả thuận mà Công ty B chưa gửi thông báo về việc ký hợp đồng giao dịch thì ông T có quyền đơn phương chấm dứt Văn bản thỏa thuận và Công ty B phải trả lại tiền cọc và tiền bồi thường thiệt hại theo thoả thuận.

Cùng với việc ký kết Văn bản thỏa thuận, ông Âu Quốc T và Công ty B đã đồng thời (cùng thời điểm ngày 21/7/2021) xác lập ký kết Phụ lục số 01 (về việc sửa đổi, bổ sung văn bản thoả thận số T 072002/SMT/NSL) để điều chỉnh tổng số tiền đặt cọc ông Âu Quốc T phải đóng cho Công ty B là 3.888.492.134 đồng với tiến độ chia thành nhiều đợt trong thời gian từ năm 2021 đến năm 2023.

Thực hiện Văn bản thoả thuận và P 01, ông Âu Quốc T đã chuyển cho Công ty B tổng số tiền là 1.909.527.909 đồng qua 06 đợt, cụ thể như sau:

  • + Ngày 16/9/2021 nộp số tiền: 200.000.000 đồng
  • + Ngày 30/7/2021 nộp số tiền: 181.905.477 đồng
  • + Ngày 30/8/2021 nộp số tiền: 572.859.000 đồng
  • + Ngày 15/9/2021 nộp số tiền: 381.905.477 đồng
  • + Ngày 15/11/2021 nộp số tiền: 190.951.955 đồng
  • + Ngày 15/3/2022 nộp số tiền: 381.906.000 đồng.

Quá trình thực hiện Văn bản thoà thuận và Phụ lục số 01 không đạt được nên ngày 16/1/2023 ông T và Công ty B đã ký Biên bản thanh lý Văn bản thoả thuận số 1072002/2023/TLVBTT thống nhất nội dung: Văn bản thoả thuận chấm dứt kể từ ngày ký Biên bản thanh lý theo đó mọi quyền và nghĩa vụ các bên xác lập theo Văn bản thoả thuận trên sẽ chấm dứt và được giải quyết theo nội dung Biên bản thanh lý ngày 16/1/2023. Tại Biên bản thanh lý Công ty B đã xác nhận số tiền đặt cọc ông T đã nộp là 1.909.527. 909 đồng và thống nhất hoàn trả ông T số tiền đặt cọc đã nộp cộng thêm tiền bồi thường thiệt hại theo quy định tại Văn bản thoả thuận là 178.409.310 đồng; Tổng cộng cả 02 khoản tiền là 2.087.937.219 đồng. Công ty B cam kết sẽ thanh toán cho ông T số tiền 2.087.937.219 đồng trên trong thời hạn 60 ngày làm việc kể từ thời điểm ký Biên bản thanh lý. Tuy nhiên từ đó cho đến nay Công ty B vẫn chưa thanh toán cho ông T. Ông Âu Quốc T không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết đối với Văn bản thoả thuận T072002/SMT/NSL ngày 21/7/2021 và Phụ lục số 01 vì các bên đã thống nhất chấm dứt thực hiện và ký biên bản thanh lý.

Ông T đề nghị Toà án giải quyết theo nội dung đơn khởi kiện, đơn sửa đổi, bổ sung và các lời khai tại Toà án: Buộc Công ty B hoàn trả số tiền 2.087.937.219 đồng theo đúng cam kết tại Biên bản thanh lý Văn bản thoả thuận số 1072002/2023/TLVBTT lập ngày 16/1/2023. Yêu cầu Công ty cổ phần B thanh toán trả ông Âu Quốc T số tiền bồi thường thiệt hại do chậm thanh toán khoản tiền 2.087.937.219 đồng theo lãi suất là 0,03%/ngày tính từ ngày 4/4/2023 (là ngày tiếp theo của thời điểm kết thúc thoả thuận thanh toán trong thời hạn 60 ngày làm việc kể từ ngày ký biên bản thanh lý) đến ngày xét xử sơ thẩm.

* Bị đơn - Công ty Cổ phần B do đại diện theo uỷ quyền là ông Doãn Thành L trình bày:

Công ty B là doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh tư vấn môi giới bất động sản theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp là 0107651195, do bà Cao Thị Liên H – Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật. Căn cứ Thông báo về việc chỉ định môi giới dự án ngày 21/5/2021 của Công ty TNHH M thì Công ty B được Công ty TNHH M chỉ định môi giới dự án Công viên Đại dương H (Sun Marina T3) do Công ty TNHH M là chủ đầu tư.

Theo đó ngày 21/7/2021 Công ty B ký kết Văn bản thoả thuận số T072002/SMT/NSL về việc Công ty G tư vấn cho ông T các thông tin về bất động sản tại dự án Sun Marina T3 tại H do Công ty TNHH M làm chủ đầu tư phù hợp với thông tin của bản đăng ký nguyện vọng đính kèm. Mức phí dịch vụ là 150.000.000 đồng. Công ty và ông Âu Quốc T còn ký phụ lục số 01 về việc sửa đổi, bổ sung văn bản thoả thuận số T072002/SMT/NSL ngày 21/7/2021, việc ký kết các văn bản trên là tự nguyện, đúng pháp luật. Quá trình thực hiện ông T đã chuyển cho công ty số tiền đặt cọc là 1.909.527. 909 đồng. Đến ngày 16/1/2023 các bên đã ký kết Biên bản thanh lý Văn bản thoả thuận ngày 21/7/2021 và thống nhất kể từ ngày ký biên bản thanh lý mọi quyền và nghĩa vụ của các bên theo văn bản thoả thuận sẽ chấm dứt và được giải quyết theo biên bản thanh lý. Theo đó công ty Đ chuyển trả ông T số tiền đặt cọc đã nhận là 1.909.527.909 đồng cộng thêm khoản tiền bồi thường thiệt hại được hưởng theo quy định tại Điều 2.2 của Biên bản thanh lý là 178.409.310 đồng, tổng cộng là 2.087.937.219 đồng. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại công ty chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo như thoả thuận tại Biên bản thanh lý nên đề xuất như sau: Phương án 1: Chuyển đổi số tiền cần thanh toán sang 01 bất động sản khác. Phương án 2: Công ty Đ1 thời hạn thanh toán từ 18 đến 24 tháng (có tính lãi) theo như Biên bản thanh lý. Công ty N với ý kiến của ông T và đại diện theo uỷ quyền không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết đối với Văn bản thoả thuận T072002/SMT/NSL ngày 21/7/2021 và Phụ lục số 01 vì các bên đã thống nhất chấm dứt thực hiện và ký biên bản thanh lý. Trong trường hợp ông T không chấp nhận cả 02 phương án trên và vẫn yêu cầu buộc công ty thanh toán số tiền như yêu cầu khởi kiện thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là Công ty TNHH M:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Công ty TNHH M do ông Nguyễn Chí T2 là đại diện theo pháp luật tại địa chỉ trụ sở công ty theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, triệu tập người đại diện công ty đến Tòa án và cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết việc khởi kiện tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán của nguyên đơn với Công ty B nhưng đại diện công ty đều không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án nên Tòa án không lấy được lời khai cũng không hòa giải được. Tòa án đã tiến hành tống đạt đúng quy định Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng đại diện của công ty vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Buộc Công ty B thanh toán số tiền theo Biên bản thanh lý, đối với khoản tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì xác định lại số tiền vi phạm là 1.909.527.909 đồng, thời điểm công ty vi phạm nghĩa vụ thanh toán tính từ ngày 18/4/2023, lãi suất là 0,03%/ngày, nên số tiền công ty phải bồi thường thiệt hại tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 1.909.527.909 đồng x 504 ngày x 0,03%/ngày = 288.720.620 đồng theo quy định tại điểm d Điều 3. Xử lý tiền đặt cọc của Văn bản thoả thuận số T072002/SMT/NSL ngày 21/7/2021 ký kết giữa các bên, tổng cộng là 2.376.657.839 đồng, ngoài ra không yêu cầu Toà án xem xét nội dung gì khác. Đại diện theo uỷ quyền của Công ty B tại phiên toà nhất trí với nội dung khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu buộc công ty phải thanh toán số tiền được ghi nhận tại Biên bản thanh lý ngày 16/1/2023, đối với số tiền bồi thường thiệt hại tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm phía bị đơn thống nhất cách tính thời gian vi phạm, lãi suất, căn cứ pháp lý và số tiền yêu cầu mà nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu công ty thanh toán tại Toà án là đúng, không có ý kiến gì khác và đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định pháp luật.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày nội dung luận cứ: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và nội dung trình bày thống nhất của các đương sự tại phiên toà xác nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật, phía công ty đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận tại Biên bản thanh lý ngày 16/1/2023. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty B phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm tổng cộng là 2.376.657.839 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Việc yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ; thu thập chứng cứ; tiến hành thủ tục tố tụng được tiến hành công khai, minh bạch, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và các đương sự đã thực hiện đầy đủ theo quy định tại Điều 22 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là Công ty TNHH M, do đây là lần thứ 2 vắng mặt tại phiên toà không có lý do đề nghị HĐXX căn cứ điều 227, 228 xét xử vắng mặt. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty cổ phần B phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền theo yêu cầu là 2.376.657.839 đồng. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được miễn giảm một phần án phí theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Âu Quốc T khởi kiện Công ty CP B, có địa chỉ trụ sở chính theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần là Tầng D tòa nhà S, số A H, phường T, quận H, Hà Nội, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Hoàn Kiếm.

- Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 16/1/2023 ông Âu Quốc T và Công ty B đã ký Biên bản thanh lý Văn bản thoả thuận số 1072002/2023/TLVBTT thống nhất nội dung: Xác nhận số tiền đặt cọc ông T đã nộp và thống nhất hoàn trả ông T số tiền đặt cọc đã nộp cộng thêm tiền bồi thường thiệt hại theo quy định tại Văn Bản T trong thời hạn 60 ngày làm việc kể từ thời điểm ký Biên bản thanh lý. Tuy nhiên sau đó Công ty B không thực hiện theo thoả thuận đã cam kết. Các bên đương sự thống nhất xác định thời điểm công ty vi phạm nghĩa vụ thanh toán là ngày 18/4/2023. Do quyền và lợi ích bị xâm phạm nên ngày 20/2/2024 Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm nhận được Đơn khởi kiện đề ngày 29/1/2024 của ông Âu Quốc T, căn cứ Điều 184 BLTTDS và Điều 429 BLDS HĐXX xác định thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

- Đại diện Công ty TNHH M vắng mặt tại phiên toà. Xét thấy đây là lần thứ 2 đại diện Công ty TNHH M vắng mặt tại phiên toà mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS vẫn tiến hành xét xử vụ án.

* Về nội dung vụ án:

[1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc bị đơn phải thanh toán trả số tiền 2.087.937.219 đồng theo đúng cam kết ghi nhận tại Biên bản thanh lý Văn bản thoả thuận số 1072002/2023/TLVBTT ký kết ngày 16/1/2023 giữa nguyên đơn và bị đơn:

Ngày 21/7/2021, ông Âu Quốc T và Công ty Cổ phần B (sau đây gọi tắt là “Công ty B”) đã ký kết Văn bản thỏa thuận số T072002/SMT/NST và Phụ lục số 01 (về việc sửa đổi, bổ sung văn bản thoả thận số T 072002/SMT/NSL) với các nội dung chính liên quan đến việc Công ty B giới thiệu, tư vấn, hỗ trợ cho ông T các thông tin về bất động sản và các thủ tục để ông T được ký kết hợp đồng mua bán bất động sản tại Dự án Công viên Đại dương H1 do Công ty TNHH M là chủ đầu tư, khoản phí dịch vụ và tiền đặt cọc, thời gian đóng tiền và thời gian thực hiện văn bản thoả thuận. Do không đạt được mục đích nên ngày 16/1/2023 ông T và Công ty B đã ký Biên bản thanh lý Văn bản thoả thuận số 1072002/2023/TLVBTT thống nhất nội dung: Văn bản thoả thuận chấm dứt kể từ ngày ký Biên bản thanh lý theo đó mọi quyền và nghĩa vụ các bên xác lập theo Văn bản thoả thuận trên sẽ chấm dứt và được giải quyết theo nội dung Biên bản thanh lý ngày 16/1/2023. Công ty B thống nhất hoàn trả ông T số tiền đặt cọc đã nộp là 1.909.527.909 đồng cộng thêm tiền bồi thường thiệt hại theo quy định tại Văn bản thoả thuận là 178.409.310 đồng; Tổng cộng là 2.087.937.219 đồng và cam kết thanh toán trong thời hạn 60 ngày làm việc kể từ thời điểm ký Biên bản thanh lý.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên toà thể hiện việc ký kết Văn bản thoả thuận, Phụ lục số 01 kèm theo và Biên bản thanh lý giữa các bên là tự nguyện thoả thuận, ký kết bởi những người có đủ thẩm quyền, năng lực hành vi dân sự, phù hợp với giao dịch được xác lập, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy Văn bản thỏa thuận số T072002/SMT/NST và Phụ lục số 01 (về việc sửa đổi, bổ sung văn bản thoả thận số T 072002/SMT/NSL) ngày 21/7/2021, Biên bản thanh lý Văn bản thoả thuận số 1072002/2023/TLVBTT ngày 16/1/2023 trên là hợp pháp và là căn cứ để các bên thực hiện.

Ông T không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết đối với Văn bản thoả thuận T072002/SMT/NSL và Phụ lục số 01 kẻm theo vì các bên đã thống nhất chấm dứt thực hiện. Ông T đề nghị Toà án giải quyết buộc Công ty B thanh toán số tiền 2.087.937.219 đồng theo đúng cam kết của các bên tại Biên bản thanh lý ngày 16/1/2023. Tại nội dung khoản 2.1 Điều 2. Xử lý tiền đặt cọc của Biên bản thanh lý và tại phiên toà hôm nay đại diện công ty T4 nội dung và xác nhận Công ty B có nghĩa vụ phải thanh toán cho ông T số tiền đặt cọc đã nhận từ ông T là 1.909.527.909 đồng và tiền bồi thường thiệt hại ông T được hưởng theo Văn bản thoả thuận tính đến ngày 16/1/2023 là 174.409.310 đồng, tổng cộng là 2.087.937.219 đồng là đúng, đến nay công ty vẫn chưa thanh toán được cho ông T và không có ý kiến gì khác. Vì vậy nguyên đơn ông T yêu cầu bị đơn Công ty B thanh toán số tiền 2.087.937.219 đồng là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[2]. Về yêu cầu thanh toán số tiền bồi thường thiệt hại do chậm thanh toán tính từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ thanh toán đến thời điểm xét xử sơ thẩm của nguyên đơn:

Do không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận nên nguyên đơn ông Âu Quốc T khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn Công ty B phải thanh toán số tiền bồi thường thiệt hại do chậm thanh toán tính từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ thanh toán đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên toà nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất xác nhận lại khoản tiền vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 1.909.527.909 đồng, thời điểm công ty V nghĩa vụ thanh toán là tính từ ngày 18/4/2023, lãi suất là 0,03%/ngày theo điểm d Điều 3. Xử lý tiền đặt cọc của Văn bản thoả thuận số T072002/SMT/NSL ngày 21/7/2021 nên số tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 1.909.527.909 đồng x 504 ngày x 0,03%/ngày = 288.720.620 đồng. Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn cũng thống nhất với số tiền vi phạm, cách tính thời gian vi phạm, lãi suất, căn cứ pháp lý và số tiền mà nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu công ty T5 do vi phạm nghĩa vụ là đúng và không có ý kiến gì khác. Xét thấy việc thoả thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật và phù hợp với nội dung thoả thuận tại khoản 2. Điều 2 Biên bản thanh lý Văn bản thoả thuận ngày 16/1/2023 và quy định tại điểm d Điều 3. Xử lý tiền đặt cọc của Văn bản thoả thuận số T072002/SMT/NSL ngày 21/7/2021 nên cần chấp nhận. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền bồi thường thiệt hại do chậm thanh toán tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 288.720.620 đồng.

Vì vậy, tổng số tiền mà Công ty B phải thanh toán cho nguyên đơn ông Âu Quốc T theo nội dung khởi kiện là: 2.087.937.219 đồng + 288.720.620 đồng = 2.376.657.839 đồng.

[3]. Luận cứ của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[4]. Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội: Phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

[5]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn được hoàn trả tiền tạm ứng án phí DSST và bị đơn phải chịu án phí DSST theo giá nghạch theo quy định pháp luật đối với số tiền phải thanh toán.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 116, 117, 274, 275, 280, 351, 357, 361, 468 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Âu Quốc T đối với Công ty cổ phần B.

    Buộc Công ty cổ phần B phải thanh toán số tiền nợ là 2.087.937.219 đồng và thanh toán số tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày tiếp theo của thời điểm kết thúc thoả thuận thanh toán trong biên bản thanh lý đến ngày xét xử sơ thẩm là 288.720.620 đồng. Tổng cộng buộc Công ty cổ phần B phải thanh toán cho ông Âu Quốc T số tiền là 2.376.657.839 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.

  2. Về án phí DSST: Công ty cổ phần B phải chịu án phí DSST là 79.533.156 đồng. Hoàn trả ông Âu Quốc T số tiền tạm ứng án phí DSST 37.800. 000 đồng đã nộp tại Biên lai số 0006390 ngày 17/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi Nơi nhận:

  • - TANDTp Hà Nội;
  • - VKSND q. Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS q.Hoàn Kiếm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đặng Văn Ngọc

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/DSST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán

  • Số bản án: 81/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Âu Quốc T– Cty CP BĐS Mi 2
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger