| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 81/2022/HS-ST Ngày: 28/7/2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Bình
- Bà Nguyễn Ngọc Cúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2022/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Thị T, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1990 tại Nam Định. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nơi sinh sống: Tổ M, khu phố S, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị V, sinh năm 1969; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 chị em; bị cáo có chồng tên Phạm Văn L, sinh năm 1988 và có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị tạm giữ ngày 23/02/2022 và chuyển tạm giam theo lệnh số 873/LTG-ĐTTH ngày 01/3/2022.
- Bị hại: Công ty TNHH Một thành viên chuyển phát nhanh T– Chi nhánh B. Địa chỉ: Số E5-E6, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đại diện theo pháp luật: Bà Lý Thị Thúy D – Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Ngọc K, sinh năm 1995. Văn bản ủy quyền ngày 22/02/2022.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1969 và ông Trần Văn N, sinh năm 1964. Cùng địa chỉ: Tổ 6, khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, bị hại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Thị T là nhân viên của công ty TNHH một thành viên chuyển phát nhanh T– Chi nhánh B (viết tắt là công ty T); T làm việc tại bộ phận vận hành, giữ chức vụ Admin bưu cục V, huyện V tại tổ 3, khu phố 6, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai, với trách nhiệm tiếp nhận thông tin khách hàng, lên vận đơn khách hàng và thu tiền shipper (Cod&cc cash), báo cáo thống kê thu tiền, chuyển tiền về công ty. T có quen biết ngoài xã hội với đối tượng tên Việt (không rõ họ tên và địa chỉ), khi Việt hỏi mượn tiền thì T đồng ý. Ngày 14/02/2022, T đến bưu cục V làm việc và thu được tiền hàng là số tiền 328.905.933đ, theo quy định T phải chuyển khoản hết số tiền trên về công ty T khi hết giờ làm việc nhưng T không thực hiện mà mang toàn bộ số tiền về nhà rồi liên lạc với Việt. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T đã mang toàn bộ số tiền trên đi lên Thành phố Hồ Chí Minh cho Việt mượn, sau đó T quay về nhà. Ngày 15/2/2022, kế toán công ty hỏi T sao chưa chuyển tiền về cho công ty thì T nói dối chuyển rồi nhưng do mạng gặp sự cố nên chưa thông báo. Đến ngày 21/02/2022 kế toán công ty tiếp tục liên lạc nói chưa nhận được tiền và yêu cầu T ra ngân hàng kiểm tra lại. Sợ bị phát hiện nên T đã lên mạng nhờ người đàn ông trên mạng xã hội (không rõ nhân thân lai lịch) làm giả 02 hóa đơn giao dịch trên điện thoại là đã chuyển khoản, T trả cho người này 200.000đ, cụ thể giao dịch giả là: Lần thứ nhất, thanh toán cho công ty T số tiền 230.566.705đ giao dịch tại ngân hàng Agribank ngày 21/02/2022 và lần thứ hai là số tiền 98.339.228đ giao dịch tại ngân hàng HD bank ngày 22/02/2022. Sau đó T gửi 02 giao dịch này cho kế toán công ty T nhưng kế toán kiểm tra vẫn chưa nhận được tiền nên đã liên hệ với anh Mai Ngọc K, sinh năm 1995 là quản lý tại bưu cục V để yêu cầu kiểm tra. Anh K liên hệ với ngân hàng để xác minh thì được biết các tin nhắn mà T cung cấp là giả, ngân hàng không thực hiện giao dịch trên. Ngày 23/2/2022, anh Mai Ngọc K trình báo công an thị trấn V. Biết sự việc bị phát hiện, lúc 16 giờ ngày 23/02/2022 T đến Công an thị trấn V đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi. Công an thị trấn V lập hồ sơ vụ việc chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng vụ án: Đối với điện thoại di động T liên lạc làm giả 02 giao dịch chuyển tiền sau đó mang về nhà cất nhưng không xác định được cụ thể vị trí nên không thu hồi được.
Tại Cáo trạng số: 75/CT-VKSVC ngày 29/6/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Tham ô tài sản”; Áp dụng khoản d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 xử phạt bị cáo T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng mô tả hành vi của bị cáo mà Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận, ngày 14/02/2022 Trần Thị T có hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao chiếm đoạt số tiền 328.905.933đ của công ty TNHH một thành viên chuyển phát nhanh T– Chi nhánh B. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo là người đã trưởng thành và nhận thức được hành vi mà bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công ty T được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả, ra đầu thú, chưa có tiền án tiền sự, đang nuôi con nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị T phạm tội “Tham ô tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2022.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Sở Tư pháp; - VKSND tỉnh; - TAND tỉnh; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QL, NV liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuấn |
Bản án số 81/2022/HS-ST ngày 28/07/2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai về tham ô tài sản
- Số bản án: 81/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/07/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị T tham ô tài sản của công ty T
