|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 81/2021/DS-PT Ngày: 18/5/2021 V/v “Tranh chấp QSD đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Khải
- Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Đình Tiến
- Ông Hồ Hữu Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Hùng Vĩ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Phạm Thị Lan Vân - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 18 tháng 5 năm 2021, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2021/TLPT-DS ngày 17 tháng 3 năm 2021 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2021/DS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 70/2021/QĐ-PT ngày 26 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 60/2021/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Ph; địa chỉ số 1, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Bà Bùi H; địa chỉ ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Mai Th; địa chỉ ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ (theo giấy ủy quyền lập ngày 13 tháng 4 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Hậu Giang).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Lê B; địa chỉ địa chỉ số 1, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
- - Ông Nguyễn X; địa chỉ ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- - Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện cùng các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn anh Lê Ph trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Lê B nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn X và bà Nguyễn S vào năm 2010, tại các thửa 905, 893, 894 tờ bản đồ số 04, diện tích 10.056m2 ông X đã giao đất và đã làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà B xong. Đến năm 2017 bà Lê B làm thủ tục tặng cho và chuyển quyền toàn bộ phần đất nêu trên cho con là anh Lê Ph. Trong quá trình sử dụng đất anh Ph cho rằng bà H có hành vi lấn chiếm đất của anh Ph, nên anh Ph khởi kiện yêu cầu bà H trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích 244,5m2 thuộc thửa 905 do anh Ph đang đứng tên.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Mai Th trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Bùi H canh tác ổn định không tranh chấp, trước đây đất giáp ranh với đất của ông Nguyễn X hai bên có cậm trụ đá để xác định ranh, khi ông X chuyển nhượng đất cho bà B (mẹ anh Ph) thì phía bà B kéo hàng rào chì gai ngay vị trí trụ đá để rào phần đất bà B nhận chuyển nhượng. Phần đất tranh chấp bà H vẫn canh tác ổn định; đến khoảng năm 2018 thì bà B tặng cho toàn bộ phần đất cho anh Lê Ph thì tranh chấp, anh Ph cho rằng hai cái bờ bà H đang canh tác là của anh Ph nên khởi kiện yêu cầu bà H trả lại anh Ph phần đất có diện tích 244,5m2; bà H không đồng ý vì phần đất đang tranh chấp là của bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn anh Lê Ph kháng cáo cho rằng theo hiện trạng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh được cấp thì phần đất đang tranh chấp, theo đo đạc thực tế có diện tích 244,5m2 do bà Bùi H đang canh tác thuộc quyền sử dụng của anh, nên yêu cầu bà H trả lại phần đất đã lấn chiếm. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Mai Th thì cho rằng, phần đất tranh chấp là của bà H sử dụng ổn định từ rất lâu và giữa bà H và ông Nguyễn X chủ cũ có cậm trụ đá làm ranh; đến khi bà B nhận chuyển nhượng đất của ông X cũng đã xây dựng hàng rào ngay trụ đá, nên bà khẳng định không có lấn chiếm đất và yêu cầu công nhận phần đất đang tranh chấp cho bà H.
[2] Hội đồng xét xử nhận thấy, theo mảnh trích đo địa chính số 111, ngày 30/10/2020 thì phần đất nguyên đơn sử dụng ổn định tại các thửa 905, 894, 893 có diện tích 10.056m2; đối chiếu với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh Ph được cấp là 10.466,4m2 dư 410,4m2. Xét quá trình sử dụng đất, ông X là chủ đất cũ khi thỏa thuận chuyển nhượng cho bà B mẹ anh Ph đã xác định chuyển nhượng phần đất tiếp giáp bà H có trụ đá và bà B cũng đã nhận đất và xác định quyền sử dụng đất giáp ranh với bà H bằng hành động là làm hàng rào xác định ranh giới giữa các bên; sự việc này đã được ông X, bà B thừa nhận trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị đơn có quá trình sử dụng lâu dài, trồng cây trên đất lâu năm được ông X, bà B và chính nguyên đơn thừa nhận. Do đó, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; công nhận phần đất đang tranh chấp cho bị đơn là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Lê Ph. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Ph.
2. Công nhận phần đất tranh chấp tổng diện tích 244,5 m2 tại ví trí (III) theo mảnh trích đo địa chính số 111, ngày 30 tháng 10 năm 2020 của Công ty cổ phần Tài nguyên và môi trường Hậu Giang là của bị đơn Bùi H.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh Lê Ph phải chịu 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hoàng Khải |
Bản án số 81/2021/DS-PT ngày 18/05/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 81/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/05/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lê Ph khởi kiện yêu cầu bà Bùi H trả lại phần đất đã liến chiếm có diện tích 244,5m2 thuộc thửa 905 do anh Ph đang đứng tên.
