Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 80a/2024/HS-PT

Ngày: 30-07-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn

Bà Nguyễn Thị Thu Từ

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chí Kiên – Thư ký viên, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 195/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị M. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M đối với bản án hình sự sơ thẩm số 29/2023/HSST ngày 22 tháng 6 năm 2023.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị M (tên gọi khác: không); sinh ngày: 10/10/1984 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Viên chức Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T; là Đảng viên ĐCS Việt Nam, hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Sỹ C và bà: Nguyễn Thị M1; chồng: Nguyễn Sỹ C1; con: có 2 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2022 đến ngày 23/12/2022 bị áp dụng biện pháp “bảo lĩnh”. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo của các bị cáo nên Tòa án không triệu tập

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Văn M2 là công chức địa chính UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An, được Chủ tịch UBND phường phân công nhiệm vụ: tiếp nhận hồ sơ, chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện các thủ tục hành chính như tiếp nhận hồ sơ, thẩm tra, xác minh nguồn gốc, hiện trạng đăng ký và sử dụng đất đai, tình trạng tranh chấp đất đai và biến động đất đai trên địa bàn; lập hồ sơ, văn bản để UBND phường trình UBND cấp trên quyết định về giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phối hợp với cơ quan chuyên môn cấp trên trong việc đo đạc, lập bản đồ địa chính.

Nguyễn Thị M, Trần Văn D là viên chức làm việc tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T, được giám đốc văn phòng đăng ký cấp đất giao nhiệm vụ, quyền hạn: “Phụ trách công tác thẩm định các loại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật của các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thị xã T. Vào sổ địa chính, sổ đăng ký biến động hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Báo cáo thường xuyên cho Giám đốc; thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao, chịu trách nhiệm trước Giám đốc văn phòng và pháp luật về các công việc lĩnh vực công tác được giao.”

Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến nay hoạt động giao địch, mua bán đất đai trên địa bàn thị xã T trở nên sôi động, từ đó dẫn đến nhu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia tăng đột biến. Liên quan đến hoạt động chuyển nhượng, tách thửa, tặng cho quyền sử dụng đất, đa số người dân không nắm được quy trình, trình tự thủ tục các bước làm hồ sơ; một số người dân có nhu cầu muốn làm bìa đất nhanh chóng để thuận tiện trong giao dịch mua bán. Nắm được tâm lý trên, các bị cáo Hồ Văn M2, Trần Văn D, Nguyễn Thị M đã bàn bạc, thống nhất với nhau: khi người dân có nhu cầu và liên hệ để được cấp bìa đất nhanh, các bị cáo sẽ nhận làm và căn cứ vào từng loại hồ sơ để đưa ra các yêu cầu về mức giá; chi phí làm nhanh sẽ cao hơn rất nhiều so với chi phí thực tế số tiền phải nộp vào ngân sách nhà nước nhằm thu lợi bất chính. Trần Thị Thanh N là nhân viên Văn phòng C, N không làm việc trong lĩnh vực thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã bàn bạc, trao đổi thống nhất với Nguyễn Thị M, là người có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu tiền ngoài quy đinh (gọi là chi phí bôi trơn), nhận tiền của các cá nhân có nhu cầu làm bìa đất nhanh theo yêu cầu của Nguyễn Thị M, số tiền cụ thể giữa N và M thống nhất theo từng loại hồ sơ. Ngoài ra Trần Thị Thanh N còn thu thêm một khoản chi phí để hưởng lợi trái pháp luật.

Bằng những việc làm trên, các bị cáo đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao làm trái công vụ (trái quy định) gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của cá nhân công dân, xâm hại trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của Cơ quan nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội, làm ảnh hưởng đến uy tín của các Cơ quan Nhà nước. Quá trình điều tra xác định hành vi đồng phạm của các bị can cụ thể như sau:

Hành vi của Hồ Văn M2:

Trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ, M2 biết nhiều người có nhu cầu muốn làm nhanh thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tách thửa, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên M2 đã bàn bạc thống nhất với Nguyễn Thị M, Trần Văn D: M2 sẽ nhận hồ sơ từ người dân và yêu cầu người dân khi có nhu cầu làm nhanh thủ tục đất đai phải đưa một khoản tiền lớn hơn nhiều so với các khoản tiền phải chi theo quy định, sau đó M hoặc D sẽ xin lãnh đạo để được thẩm định hồ sơ đó; đối với những hồ sơ do M2 nộp vào M, D sẽ ưu tiên thẩm định trước và trực tiếp thực hiện một số công việc không thuộc chức năng nhiệm vụ được phân công để rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục. Số tiền thu của người dân M2 sẽ chuyển một phần cho Nguyễn Thị M, Trần Văn D; phần còn lại M2 sẽ hưởng lợi.

Với cách thức như trên, trong năm 2022 M2 cùng với M thực hiện 01 hành vi; cùng với D thực hiện 02 hành vi, gây thiệt hại cho người dân số tiền 92.983.000 đồng, vụ lợi số tiền 20.938.000 đồng, cụ thể như sau:

Hành vi đồng phạm giữa Hồ Văn M2 và Nguyễn Thị M:

Vụ thứ nhất: Vào đầu tháng 03/2022, anh Lê Thái S mua thửa đất sô 60 tc bản đồ số 10 có địa chỉ tại khối L, phường Q, thị xã T cu anh Phạm Đức S1. Đê tăng giá trị của thửa đất, Lê Thái S có nhu câu làm thi tục "cấp đổi tăng diện tích đất ở" nên trao đổi với M2 về việc muốn làm nhan giấy chứng nhận quyền sử dụng dất (bìa đất) đối với thửa dất trên và được M3 đồng ý; M2 yêu cu S phải đưa ch phí làm nhanh đi vi hồ sơ trên 1)30.000.000 đồng. Do không hiểu biết về thủ tục hành chính và muốn đạt mục đíc làm nhanh thủ tục cấp đổi tăng diện tích đất ở; ngày 07/03/2022 S đã sử dụng s tài khoản 51310000170804 (Ngân hàng B) mang tên Lê Thái S chuyển đế số tài khoản 51310000114130 (Ngân hàng B) mang tên Hồ Văn M2 với s tiền 30.000.000VNĐ, đồng thời đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thử đất trên cho M2; sau đó M2 tiến hành hoàn thiện hô sơ ban đâu và liên hệ với M để đặt vấn đề về việc sau khi M2 nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND th xã T thì M sẽ nhận làm nhanh bìa đất cho tha đất này với chi phí 20.000.000VNĐ (không bao gồm các khoản tiền như nộp thuế, phí thẩm định sơ, lệ phí câp bìa, tiên trích lục, trích đo và các khoản phí khác theo quy định) thì được M đông ý. Đến ngày 10/3/2022, M2 đưa hô sơ đên nộp tại bộ phận một cài khoán thị xã T Và thông báo ch ai biệt, cùng Ngây M4 sữ lện điển số tài 3611205197277 (Ngân hàng A1) mang tên Nguyễn Thị M số tiền 20.000.000VNĐ. Sau khi nhận làm nhanh bìa đất và nhận tiền của M4, M đã xin lãnh đạo chi nhánh để thụ lý hồ sơ. Quá trình thẩm định, M ưu tiên thầm định hồ sơ của thửa đất nói trên trước. Sau khi thẩm định xong, M trình ký lãnh đạo chi nhánh đê chuyên qua giai đoạn thực hiện nghĩa vụ tài chính. Giai đoạn này, M trực tiêp đưa hô sơ đên Chi cục thuê khu vực Phủ quỳ II đê tính thuê và sau khi có thông báo nộp tiền thuế, M trực tiếp đến lấy rồi đưa cho M4 mà không được sự phân giao của lãnh đạo chi nhánh và không thông qua cán bộ có nhiệm vụ luân chuyển hồ sơ thuế của Chi nhánh là anh Đinh Lê N1. Nhận được thông báo nộp tiền thuế, ngày 17/3/2022 M4 đền Ngân hàng TMCP Đ4- Chi nhánh P1 nộp Lệ phí trước bạ nhà đất sô tiên 2.975.000 VNĐ, sau đó đưa hóa đơn nộp tiền cho M để M tiến hành viết bìa trình lãnh đạo ký. Ngày 24/4/2022, M4 đến bộ phận một cửa UBND thị xã T nộp Phí thẩm định hồ sơ và Lệ phí cấp bìa đất số tiền 220.000VNĐ, nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi giao lại cho Lê Thái S. Đối với vụ này, M4 nhận của anh S số tiền 30.000.000VNĐ, M4 chuyển chi phí làm nhanh cho M số tiền 20.000.00VNĐ, nộp thuế trước bạ số tiền 2.975.000 VNĐ, nộp phí thẩm định và lệ phí cấp bìa sô tiên 220.000 VNĐ, ngoài ra không chi phí gì khác. Đối với số tiền 20.000.000VNĐ nhận từ M4, M trình bày đã chi cho anh Nguyễn Đức V (thời điểm này là Giám đốc chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã T) số tiền 3.000.000 VNĐ. Tuy nhiên anh Nguyễn Đức V không thừa nhận có việc nhận tiền từ M, không có tài liệu để hứng minh cho lời khai của M là có căn cứ. Như vậy số tiền Lê Thái S thiệt hại là 26.805.000VNĐ, trong đó Hồ V1 linh vụ lợi số tiền 6.805.000VNĐ, còn Nguyễn Thị M vụ lợi số tiền .000.000 VNĐ.

* Hành vi đồng phạm giữa Hồ Văn M2 và Trần Văn D:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng tháng 03/2022, chị Nguyễn Thị L có nhu cầu làm thủ tục “Cấp đổi tăng diện tích đất ở” và thủ tục “Tách thửa” để bán, kiếm lời đối với thửa đất số 2, tờ bản đồ số 30 có địa chỉ tại xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An nên chị L đã liên hệ với M2 để làm nhanh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đất) đối với các thủ tục trên. Do địa chỉ thửa đất không thuộc địa bàn M2 quản lý nên M2 gặp hỏi D về việc có nhận làm nhanh thủ tục đất đai cho người dân không; D nói M2 cứ lập hồ sơ ban đầu, gửi vào bộ phận một cửa và thông báo lại cho D. Sau khi bàn bạc, thống nhất với D, M2 đã đồng ý nhận làm nhanh thủ tục đất đai theo yêu cầu của chị L; M2 dự tính các khoản chi phí cần thiết, dự tính số tiền mình được hưởng lợi để yêu cầu chị L phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 40.000.000VNĐ (không bao gồm tiền thuế, tiền phí thẩm định, lệ phí cấp bìa, trích đo, trích lục...). Để rút ngắn thời gian và không phải trực tiếp làm các thủ tục hành chính, ngày 21/3/2022 chị L sử dụng số tài khoản 90678888 (Ngân hàng A2) mang tên Nguyễn Thị L chuyển đến số tài khoản 3611205074390 (Ngân hàng A1) mang tên Hồ Văn M2 số tiền 40.000.000VNĐ, cùng ngày L đưa hồ sơ đến gặp M2 và được M2 hướng dẫn đến UBND xã N, thị xã T để hoàn thiện hồ sơ ban đầu cho thủ tục “Cấp đổi tăng diện tích đất ở”. Sau khi hoàn thiện hồ sơ ban đầu M2 nhận lại hồ sơ và đưa đến nộp vào bộ phận một cửa UBND thị xã T rồi thông báo cho D biết. Sau đó, M2 hỏi về chi phí làm nhanh thì D yêu cầu đưa cho D số tiền 20.000.000VNĐ (không bao gồm các khoản tiền phải nộp vào ngân sách nhà nước như tiền thuế, tiền phí thẩm định hồ sơ, lệ phí cấp bìa, tiền trích lục, trích đo). Ngày 22/03/2022, M2 sử dụng số tài khoản 51310000114130 (Ngân hàng B) mang tên Hồ Văn M2 để chuyển đến số tài khoản 3611888789999 (Ngân hàng A1) mang tên Trần Văn D số tiền 10.000.000VNĐ và đưa cho Trần Văn D 10.000.000VNĐ tiền mặt tại quán P2 đối diện cổng chính UBND thị xã T. Sau khi nhận làm nhanh bìa đất và nhận tiền của M2, D đã xin lãnh đạo chi nhánh để thụ lý hồ sơ trên. Quá trình thẩm định, D ưu tiên thẩm định hồ sơ của thửa đất nói trên trước. Sau khi thẩm định xong, D trình ký lãnh đạo chi nhánh để chuyển qua giai đoạn thực hiện nghĩa vụ tài chính. Giai đoạn này, D trực tiếp đưa hồ sơ đến Chi cục thuế khu vực Phủ quỳ II và sau khi có thông báo nộp tiền thuế, D trực tiếp đến lấy rồi đưa cho M2 mà không được sự phân giao của lãnh đạo chi nhánh và không thông qua cán bộ có nhiệm vụ luân chuyển hồ sơ thuế là anh Đinh Lê N1. Nhận được thông báo nộp tiền thuế, M2 đã đưa cho chị L đi nộp tiền thuế. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, chị L đưa hóa đơn nộp tiền cho M2, tiếp đó M2 đưa cho D để tiến hành viết bìa trình lãnh đạo ký. Đến tháng 4/2022, sau khi có bìa đất chị L đã đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để lấy bìa đất đồng thời nộp các khoản phí theo quy định.

Sau khi hoàn thành thủ tục Cấp đổi tăng diện tích đất ở, M2 tiếp tục hướng dẫn chị Liên hoàn t hồ sơ ban đầu cho thủ tục “Tách thửa”. Đến ngày 05/5/2022, M2 tiếp tục đưa hồ sơ thủ tục “Tách thửa” đến nộp tại bộ phận một cửa UBND thị xã T rồi thông báo cho D biết. Ngày 12/5/2022, D gọi điện cho M2 yêu cầu chuyển tiền làm nhanh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thủ tục “Tách thửa”, giữa M2 và D không nói rõ chi phí cụ thể khi làm nhanh thủ tục tách thửa, tuy nhiên M2 tính toán: cứ tách 01 thửa đất thì chi phí 2.000.000VNĐ để chủ động chuyển cho D. M2 đã sử dụng số tài khoản 51310000114130 (Ngân hàng B) mang tên Hồ Văn M2 để chuyển đến số tài khoản 3611888789999 (Ngân hàng A1) mang tên Trần Văn D số tiền 12.000.000VNĐ (tách 06 thửa). Trình tự, thủ tục làm nhanh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thủ tục “Tách thửa” tương tự như quá trình làm nhanh thủ tục Cấp đổi tăng diện tích đất ở đối với thửa đất nêu trên. Đến tháng 6/2022, sau khi có bìa đất chị L đã đến bộ phận một cửa UBND thị xã T nộp các khoản phí theo quy định và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với vụ này, M2 nhận của chị chị L số tiền 40.000.000VNĐ, sau đó M2 chuyển cho D số tiền 32.000.000VNĐ. Đối với các khoản tiền theo quy định do chị L trực tiếp nộp; M2 và D không phải chi cho ai khác.

Như vậy, số tiền thiệt hại của chị Nguyễn Thị L là 40.000.000VNĐ, trong đó Hồ Văn M2 vụ lợi là 8.000.000VNĐ còn Trần Văn D vụ lợi 32.000.000VNĐ.

Vụ thứ hai: Vào khoảng tháng 3/2022, anh Lê Thái S và bà Phan Thị Hồng L1 chung vốn mua thửa đất số 38 tờ bản đồ số 09 có địa chỉ tại khối L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An của ông Phạm Đức S2; Lê Thái S liên hệ với Hồ Văn M2 để làm nhanh thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tăng diện tích đất ở đối với thửa đất trên và được M2 đồng ý. M2 dự tính các khoản chi và yêu cầu anh S phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 30.000.000VNĐ. Ngày 10/3/2022 anh S sử dụng số tài khoản 51310000170804 (Ngân hàng B) mang tên Lê Thái S chuyển đến số tài khoản 51310000114130 (Ngân hàng B) mang tên Hồ Văn M2 số tiền 30.000.000VNĐ. Đến cuối tháng 3/2022, bà L1 đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất trên cho M2, Sau đó M2 đã hoàn thiện hồ sơ ban đầu và liên hệ với D để D làm nhanh thủ tục cấp đổi tăng diện tích đất ở cho thửa đất này thì được D đồng ý. Đến ngày 19/4/2022, M2 đưa hồ sơ đến nộp tại bộ phận một cửa UBND thị xã T sau đó thông báo cho D biết. Do trước đó giữa M2 và D đã thỏa thuận với nhau về chi phí làm nhanh, ngày 20/4/2022 M2 sử dụng số tài khoản 51310000114130 (Ngân hàng B) mang tên Hồ Văn M2 chuyển đến số tài khoản 3611888789999 (Ngân hàng A1) mang tên Trần Văn D số tiền 20.000.000VNĐ. Sau khi nhận làm nhanh bìa đất và nhận tiền của M2, D đã xin lãnh đạo chi nhánh để thụ lý hồ sơ. Quá trình thẩm định, D ưu tiên thẩm định hồ sơ của thửa đất nói trên trước. Sau khi thẩm định xong, D trình ký lãnh đạo chi nhánh để chuyển qua giai đoạn thực hiện nghĩa vụ tài chính. Giai đoạn này, D trực tiếp đưa hồ sơ đến Chi cục thuế khu vực Phủ quỳ II và sau khi có thông báo nộp tiền thuế D trực tiếp đến lấy mà không được sự phân giao của lãnh đạo chi nhánh và không thông qua cán bộ có nhiệm vụ luân chuyển hồ sơ thuế là anh Đinh Lê N1. Sau đó, D đưa thông báo nộp tiền thuế cho M2, ngày 16/5/2022, M2 đến Ngân hàng TMCĐ4 ĐT&PTVN-CN Phủ Quỳ để nộp Thuế thu từ đất ở tại đô thị số tiền 672.000VNĐ và Lệ phí trước bạ nhà đất số tiền 2.975.000VNĐ rồi đưa hóa đơn nộp tiền cho D để D tiến hành viết bìa. Ngày 10/6/2022, M2 đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để lấy bìa đất đồng thời nộp Phí thẩm định hồ sơ và Lệ phí cấp bìa đất số tiền 220.000VNĐ rồi đưa bìa đất cho Lê Thái S. Sau khi hoàn thành thủ tục cấp đổi tăng diện tích đất ở, anh S đã nhờ M2 thuê dịch vụ “Đo, trả điểm” và Đăng ký thực hiện trích lục đo vẽ bổ sung bản đồ địa chính tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T cho thửa đất trên để chuẩn bị làm thủ tục “Tách thửa”. Ngày 12/7/2022, do có việc nên Lê Thái S đã sử dụng số tài khoản 51310000170804 (Ngân hàng B) mang tên Lê Thái S chuyển đến số tài khoản 51310000114130 (Ngân hàng B) mang tên Hồ Văn M2 số tiền 15.000.000VNĐ để nhờ M2 nộp tiền trích lục, lấy giấy trích lục và trả tiền thuê dịch vụ đo, trả điểm. Chi phí thuê dịch vụ đo, trả điểm là 7.143.000 đồng. Ngày 14/7/2022 M2 đến bộ phận một cửa UBND thị xã T nộp tiền trích lục với số tiền 7.857.000VNĐ và lấy giấy trích lục về đưa cho Lê Thái S.

Đối với vụ này, M2 yêu cầu anh S đưa chi phí làm nhanh số tiền 30.000.000VNĐ; M2 chuyển cho D số tiền 20.000.000VNĐ (D không phải chi phí gì khác), nộp tiền thuế 3.647.000VNĐ, nộp tiền phí thẩm định và lệ phí cấp bìa 220.000VNĐ, ngoài ra không chi phí gì khác. Số tiền 15.000.000VNĐ Lê Thái S chuyển cho Hồ Văn M2 vào ngày 12/07/2022 thì M2 nộp 7.857.000VNĐ tiền trích lục, 7.143.000VNĐ là tiền thuê làm dịch vụ đo, trả điểm.

Như vậy số tiền Lê Thái S, Phan Thị Hồng L1 thiệt hại là 26.133.000VNĐ, trong đó Hồ Văn M2 vụ lợi là 6.133.000VNĐ, D vụ lợi số tiền 20.000.000VNĐ.

Hành vi của Trần Văn D:

Ngoài 2 hành vi đồng phạm với Hồ Văn M2 nêu trên. Trần Văn D trong quá trình thực hiện quyền hạn thẩm định hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đăng ký đất đai thị xã T thực hiện một số nhiệm vụ vượt quá quyền hạn được phân công để làm nhanh thủ tục công nhận lại đất ở, chuyển nhượng, tách thửa cho người dân; dự tính các khoản phải chi theo quy định, yêu cầu người dân phải đưa chi phí làm nhanh cao hơn các khoản phải chi theo quy định để vụ lợi. D đã thực hiện 02 hành vi độc lập, gây thiệt hại cho người dân và vụ lợi số tiền 27.758.628 đồng, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng tháng 01/2021, ông Vũ Ngọc L2 có nhu cầu làm thủ tục “Công nhận lại đất ở” nhằm tăng diện tích đất ở và “Tách thửa” để tặng cho con đối với thửa đất số 342, tờ bản đồ số 16 có địa chỉ tại xóm A, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Ông L2 liên hệ để D làm nhanh thủ tục “Công nhận lại đất ở” nhằm tăng diện tích đất ở và “Tách thửa” để tặng cho con đối với thửa đất trên thì được D đồng ý. D dự tính các khoản phí phải chi theo quy định và yêu cầu ông L2 đưa chi phí làm nhanh số tiền 7.000.000 đồng (bao gồm cả khoản tiền D sẽ được hưởng lợi). Do không hiểu rõ trình tự, thủ tục hành chính và muốn làm nhanh thủ tục đất đai của gia đình nên 10 ngày sau ông L2 đưa trực tiếp cho D số tiền 7.000.000 đồng. Quá trình làm thủ tục “Công nhận lại đất ở”, D tiến hành lập hồ sơ và đưa cho L2 cùng những người liên quan ký hoàn thiện hồ sơ ban đầu rồi nộp hồ sơ ở bộ phận một cửa UBND thị xã T để xin lãnh đạo trực tiếp thẩm định hồ sơ này. Tuy nhiên, khi chưa kịp xin lãnh đạo thì hồ sơ đã được lãnh đạo phân công cho chị Phạm Thị Bích T (cũng là cán bộ thẩm định thuộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T) thụ lý. D đã nhờ chị T thẩm định nhanh hồ sơ trên, thẩm định xong D là người trình ký lãnh đạo chi nhánh để chuyển qua giai đoạn thực hiện nghĩa vụ tài chính. D trực tiếp đưa hồ sơ đến Chi cục thuế khu vực Phủ quỳ II mà không được sự phân công của lãnh đạo chi nhánh và không thông qua cán bộ có nhiệm vụ luân chuyển hồ sơ thuế là chị Phan Thị Bích T1. Sau khi có thông báo nộp tiền thuế, ngày 13/01/2021 D đến Ngân hàng TMCP Đ4 - Chi nhánh P3 để nộp Lệ phí trước bạ nhà đất và tiền nộp chậm số tiền 1.104.332 đồng. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, D đưa hóa đơn nộp tiền cho T để viết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 22/01/2021 D đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để nộp Lệ phí thẩm định hồ sơ và Lệ phí cấp giấy số tiền 210.000 đồng, lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, D tiến hành làm thủ tục “Tách thửa”. Tương tự như thủ tục “Công nhận lại đất ở”, D lập hồ sơ ban đầu rồi đưa ông L2 cùng những người liên quan ký hoàn thiện hồ sơ rồi nộp vào bộ phận một cửa UBND thị xã T, sau đó xin lãnh đạo để thụ lý. Quá trình thẩm định hồ sơ, D ưu tiên thẩm định hồ sơ này trước và trình ký lãnh đạo chi nhánh để chuyển qua giai đoạn thực hiện nghĩa vụ tài chính. D đưa hồ sơ đến Chi cục thuế khu vực Phủ quỳ II mà không được sự phân công của lãnh đạo chi nhánh và không thông qua cán bộ có nhiệm vụ luân chuyển hồ sơ thuế là anh Đinh Lê N1. Vì là hợp đồng tặng cho nên không phải nộp tiền thuế. Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 03/3/2021 D đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để nộp Phí thẩm định hồ sơ và lệ phí cấp bìa số tiền 430.000 đồng, lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đưa cho ông Vũ Ngọc L2. Đối với vụ này, Trần Văn D yêu cầu ông Vũ Ngọc L2 đưa chi phí làm nhanh số tiền 7.000.000 đồng, quá trình làm nhanh bìa đất D đã nộp Lệ phí trước bạ nhà đất và tiền nộp chậm số tiền 1.104.332 đồng, Phí thẩm định hồ sơ và lệ phí cấp bìa số tiền 640.000 đồng ngoài ra không chi phí gì khác. Như vậy, số tiền ông L2 bị thiệt hại là 5.255.668 đồng, D vụ lợi số tiền 5.255.668 đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng tháng 07/2021, anh Nguyễn Trọng Đ có nhu cầu làm thủ tục “Chuyển nhượng” và “Công nhận lại đất ở” nhằm tăng diện tích đất ở đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 37 có địa chỉ tại xóm Đ, xã Đ, thị xã T, Nghệ An. Anh Đ liên hệ với D để làm nhanh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đất) đối với thửa đất trên thì được D đồng ý. D tính toán các khoản chi phí theo quy định và yêu cầu anh Đ phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 30.000.000 đồng (bao gồm cả khoản tiền D sẽ được hưởng lợi). Sau một thời gian suy nghĩ, anh Đ lo sợ nếu không đưa khoản tiền theo yêu cầu của D sẽ không làm được thủ tục đất đai. Do đó, ngày 22/7/2021 anh Đ đã sử dụng số tài khoản 51510000266275 (Ngân hàng B) mang tên Chu Thị T2 (vợ của anh Đ) chuyển đến số tài khoản 3611888789999 (Ngân hàng A1) mang tên Trần Văn D tổng số tiền 20.000.000 đồng, ngày 25/08/2021 chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng. Quá trình làm thủ tục “Chuyển nhượng”, D tiến hành lập hồ sơ ban đầu rồi nộp hồ sơ ở bộ phận một cửa UBND thị xã T và xin Lãnh đạo chi nhánh để thụ lý. Quá trình thẩm định, D ưu tiên thẩm định hồ sơ này trước và trình ký lãnh đạo chi nhánh để chuyển qua giai đoạn thực hiện nghĩa vụ tài chính. D trực tiếp đưa hồ sơ đến Chi cục thuế khu vực Phủ quỳ II và sau khi có thông báo nộp tiền thuế D trực tiếp đến lấy mà không được sự phân công của lãnh đạo chi nhánh và không thông qua cán bộ có nhiệm vụ luân chuyển hồ sơ thuế là anh Đinh Lê N1. Ngày 09/7/2021, D đến Ngân hàng TMCP Đ4 - Chi nhánh P3 để nộp Thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản số tiền 3.829.632 đồng và Lệ phí trước bạ nhà đất số tiền 957.408 đồng. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, D tiến hành viết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 19/7/2021 D đến bộ phận một cửa UBND thị xã để nộp Phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số tiền 100.000 đồng và lấy bìa đất; tiếp theo D tiến hành làm thủ tục “Công nhận lại đất ở”; tương tự như thủ tục “chuyển nhượng”, D lập hồ sơ ban đầu rồi đưa anh Đ cùng những người liên quan ký hoàn thiện hồ sơ rồi nộp vào bộ phận một cửa UBND thị xã T, sau đó xin lãnh đạo để thụ lý. Quá trình thẩm định hồ sơ, D ưu tiên thẩm định hồ sơ này trước và trình ký lãnh đạo chi nhánh để chuyển qua giai đoạn thực hiện nghĩa vụ tài chính. Giai đoạn này, D đưa hồ sơ đến Chi cục thuế khu vực Phủ quỳ II mà không được sự phân công của lãnh đạo chi nhánh và không thông qua cán bộ có nhiệm vụ luân chuyển hồ sơ thuế là anh Đinh Lê N1. Khi có thông báo thuế, D đã nộp 2.400.00 đồng tiền thuế và tiến hành viết bìa, trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Ngày 03/11/2021 D đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để nộp Phí thẩm định hồ sơ và lệ phí cấp bìa số tiền 210.000 đồng và nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đưa cho Nguyễn Trọng Đ. Đối với vụ này, D yêu cầu Nguyễn Trọng Đ phải đưa chi phí làm nhanh thủ tục đất đai số tiền 30.000.000 đồng, đã chi phí nộp thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản số tiền 3.829.632 đồng, Lệ phí trước bạ nhà đất số tiền 957.408 đồng, T3 cho thủ tục “Công nhận lại đất ở” số tiền 2.400.000 đồng, Phí thẩm định hồ sơ và Lệ phí cấp bìa số tiền 310.000 đồng ngoài ra không chi phí gì khác. Như vậy, số tiền Nguyễn Trọng Đ thiệt hại là 22.502.960 đồng và Trần Văn D đã vụ lợi số tiền 22.502.960 đồng.

Hành vi đồng phạm giữa Nguyễn Thị M và Trần Thị Thanh N:

Trần Thị Thanh N là nhân viên Văn phòng công chứng thị xã T, tỉnh Nghệ An. Quá trình làm việc, N được biết nhiều người dân thiếu hiểu biết về các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai và mong muốn làm nhanh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thuận tiện trong các giao dịch liên quan đến đất đai. Do không có chức năng, nhiệm vụ để làm các thủ tục nên N liên hệ với M để làm nhanh thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tách thửa cho người dân. M và N thỏa thuận thống nhất: chi phí làm nhanh thủ tục đất đai tùy thuộc vào từng loại hồ sơ, đối với hồ sơ chuyển nhượng nguyên thửa N phải chuyển cho M số tiền 2.500.000đ/1 bộ hồ sơ (không bao gồm các chi phí phải nộp vào ngân sách Nhà nước), còn các loại hồ sơ khác, trước khi nhận của người dân N sẽ hỏi M để thống nhất số tiền cụ thể. Sau khi đã thống nhất với M, N trực tiếp liên hệ với người dân có nhu cầu làm nhanh thủ tục đất đai. Mỗi bộ hồ sơ Nhàn sẽ yêu cầu người dân phải đưa chi phí làm nhanh hồ sơ số tiền theo yêu cầu của M và số tiền N sẽ hưởng lợi (khoảng 500.000 đồng/1 hồ sơ).

Cách thức làm nhanh thủ tục đất đai của M và N được thực hiện cụ thể như sau: Nhàn nhận hồ sơ, tài liệu liên quan từ người dân có nhu cầu làm nhanh thủ tục đất đai, sau đó đưa hồ sơ cho M; M sẽ bổ sung, ký vào một số thủ tục còn thiếu và hoàn thiện hồ sơ ban đầu để nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND thị xã T (có thể nộp trực tiếp hoặc thông qua dịch vụ bưu điện). Sau đó M sẽ gặp Lãnh đạo chi nhánh để xin thụ lý hồ sơ. Quá trình thẩm định, M thực hiện một số công việc vượt quá nhiệm vụ, quyền hạn được phân công như ưu tiên thẩm định bộ hồ sơ đã nhận làm nhanh trước và trình ký lãnh đạo chi nhánh để chuyển qua giai đoạn thực hiện nghĩa vụ tài chính; M trực tiếp đưa hồ sơ đến Chi cục thuế khu vực Phủ quỳ II, khi có thông báo nộp tiền thuế M trực tiếp đến lấy rồi đưa cho N. Đối với các khoản nghĩa vụ tài chính theo quy định, nếu có thể tính toán được trước thì N sẽ yêu cầu người dân đưa trước cho N để N nộp theo quy định; nếu không tính toán trước được thì khi có thông báo các khoản tiền phải nộp, N sẽ nộp thay (nộp Thuế thu từ chuyển nhượng bất động sản và lệ phí trước bạ nhà đất, Lệ phí thẩm định, lệ phí cấp bìa...) và nhận lại số tiền đã nộp từ người dân khi hoàn tất thủ tục. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, N đưa hóa đơn nộp tiền cho M để tiến hành viết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Khi có bìa M thông báo cho N biết để N đến bộ phận một cửa UBND thị xã T lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về đưa cho người dân.

Với cách thức như trên, trong khoảng thời gian từ tháng 4/2021 đến tháng 7/2022, M đã cùng với N thực hiện 11 hành vi, gây thiệt hại số tiền 42.882.000 đồng. Trong đó M vụ lợi số tiền 40.292.000 đồng, còn N vụ lợi số tiền 5.010.000 đồng, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào tháng 4/2021, chị Vũ Thị Thu H đặt cọc mua thửa đất số 478, tờ bản đồ số 16 có địa chỉ tại xóm D, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An của bà Đinh Thị T4, sau đó chị H đã làm thủ tục “Trích lục đo vẽ, bổ sung bản đồ địa chính” nhằm tách thành 07 (bảy) thửa để bán lại cho người khác và liên hệ với N để nhờ làm nhanh thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 07 thửa đất trên; Nhàn liên hệ với M để thông báo nhu cầu của chị H, M yêu cầu N đưa 9.000.000 đồng (không bao gồm các khoản chi phí theo quy định) để làm nhanh thủ tục chuyển nhượng đối với 07 thửa đất trên. N sau khi tính toán khoản tiền phải đưa cho M, đã yêu cầu chị H phải đưa chi phí làm nhanh 07 hồ sơ chuyển nhượng số tiền 9.600.000 đồng (Nhàn vụ lợi số tiền 600.000 đồng). Chị H không quen địa bàn, không hiểu biết về thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai nên cân nhắc nếu không đưa tiền cho N thì thủ tục chuyển nhượng sẽ bị kéo dài thời gian, ảnh hưởng đến giao dịch chuyển nhượng. Do đó chị H đồng ý đưa hồ sơ ban đầu và chi phí làm nhanh số tiền 9.600.000 đồng cho N; sau khi nhận được hồ sơ từ Nhà N, M đã hoàn thiện hồ sơ ban đầu và gửi hồ sơ qua đường bưu điện đến bộ phận một cửa UBND thị xã T. Để làm nhanh thủ tục chuyển nhượng, M đã chủ động xin lãnh đạo Chi nhánh để trực tiếp thẩm định hồ sơ và thực hiện một số hành vi vượt quá nhiệm vụ, quyền hạn: trực tiếp đưa hồ sơ đi thuế, nhận thông báo nộp thuế. Khi nhận được thông báo nộp thuế từ M, N đã thông báo cho chị H biết và N trực tiếp đến Ngân hàng TMCP Đ4 - Chi nhánh P3 để nộp Thuế thu từ chuyển nhượng bất động sản và lệ phí trước bạ nhà đất tổng số tiền 10.411.820 đồng; N đưa hóa đơn nộp tiền cho M để M tiến hành viết bìa đất và trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Ngày 12/05/2021 N đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa tổng số tiền 1.470.000 đồng và lấy bìa đất về giao cho chị H và nhận lại số tiền 11.881.820 đồng (thuế, lệ phí N đã đóng theo quy định) từ chị H. Ngày 28/6/2022, N sử dụng số tài khoản 51310000366083 (Ngân hàng B) mang tên Trần Thị Thanh N chuyển đến số tài khoản 51310000079974 (Ngân hàng B) mang tên Nguyễn Thị M số tiền 11.500.000 đồng trong đó số tiền 9.000.000 đồng là chi phí làm nhanh 07 bộ hồ sơ trên; 2.500.000 đồng là chi phí làm nhanh của bộ hồ sơ trước đó (tuy nhiên, do thời gian đã lâu nên N và M không nhớ liên quan đến bộ hồ sơ nào). Đối với vụ này, N yêu cầu chị H phải đưa tổng số tiền 21.481.820 đồng, trong đó N phải đưa chi phí làm nhanh cho số tiền 9.000.000 đồng (M nộp phí dịch vụ bưu điện số tiền 26.000 đồng), nộp tiền T3 thu từ chuyển nhượng bất động sản và lệ phí trước bạ nhà đất tổng số tiền 10.411.820 đồng, nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa tổng số tiền 1.470.000 đồng. Như vậy, số tiền chị Vũ Thị Thu H thiệt hại là: 9.574.000 đồng, trong đó Trần Thị Thanh N vụ lợi số tiền 600.000 đồng, Nguyễn Thị M vụ lợi số tiền 8.974.000 đồng.

Vụ thứ hai: Vào tháng 11/2021, anh Võ Hùng T5 đặt cọc mua thửa đất số 18, tờ bản đồ số 04 có địa chỉ tại khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An của ông Trương Sỹ Đ1, bà Trần Thị Q, sau đó anh T5 đã làm thủ tục “Trích lục đo vẽ, bổ sung bản đồ địa chính” nhằm tách thành 06 (sáu) thửa, trong đó có 01 (một) thửa để lại cho chủ cũ, các thửa còn lại để bán lại cho người khác; anh T5 liên hệ N làm nhanh thủ tục “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của 06 (sáu) thửa đất được tách từ thửa đất trên; Nhàn đã thống nhất, thỏa thuận với M để nhờ làm nhanh thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 07 thửa đất trên; M yêu cầu chi phí làm nhanh là 8.000.000 đồng (không bao gồm các khoản tiền phải nộp vào ngân sách nhà nước). Sau khi đã thống nhất chi phí làm nhanh với M, N đồng ý sẽ làm nhanh thủ tục đất đai cho anh Võ Hùng T5 nếu anh T5 đồng ý đưa chi phí làm nhanh là 10.000.000 đồng (không bao gồm các khoản phải đóng theo quy định). Anh T5 vì muốn nhanh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đồng ý đưa khoản tiền theo yêu cầu của N và M. Anh T5 đưa hồ sơ ban đầu cho N để N chuyển cho M. M đã ưu tiên thẩm định hồ sơ, trực tiếp thực hiện một số công việc vượt quá chức năng, nhiệm vụ của mình để làm nhanh thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T5. Nhàn sẽ trực tiếp nộp các khoản thuế, lệ phí theo quy định. Khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nhàn sẽ lấy để giao lại cho anh T5. Đối với vụ này, N yêu cầu anh T5 phải đưa chi phí làm nhanh thủ tục chuyển nhượng 06 thửa đất tổng số tiền 16.250.000 đồng, trong đó N chuyển theo yêu cầu của M số tiền 8.000.000 đồng, nộp tiền Thuế thu từ chuyển nhượng bất động sản và lệ phí trước bạ nhà đất số tiền 6.250.000 đồng, nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa tổng số tiền 1.270.000 đồng. Như vậy, số tiền anh Võ Hùng T5 thiệt hại là: 8.730.000 đồng, trong đó Trần Thị Thanh N vụ lợi số tiền 730.000 đồng, Nguyễn Thị M vụ lợi số tiền 8.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Vào tháng 5/2022, chị Lê Thị P nhờ anh Trần Quang Đ2 làm thủ tục chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ số 42 có địa chỉ tại xóm Đ, xã Đ, thị xã T, Nghệ An của ông Nguyễn Thanh L3 nhằm mục đích tách thành 02 (hai) thửa (trong đó 01 (một) thửa chuyển nhượng cho Lê Thị P, 01 (một) thửa giữ nguyên cho chủ cũ. Anh Đ2 liên hệ với N để làm nhanh thủ tục tách thửa đất. N đã liên hệ, hỏi M chi phí làm nhanh thủ tục tách thửa, M yêu cầu N đưa số tiền 3.500.000 đồng (không bao gồm các khoản tiền phải nộp vào ngân sách nhà nước). Sau khi đã thống nhất với M, N yêu cầu anh Đ2 phải đưa chi phí làm nhanh là 3.500.000 đồng. Ngày 16/05/2022, M nộp hồ sơ tách thửa vào bộ phận một cửa UBND thị xã T thông qua dịch vụ bưu điện với chi phí 26.000 đồng. Bằng cách thức, trình tự như trên, M đã làm nhanh thủ tục tách thửa đất cho đến khi có thông báo nộp tiền thuế. Ngày 01/06/2022 N trực tiếp đến Ngân hàng TMCP Đ4 - CN Phủ Quỳ để nộp Thuế chuyển nhượng bất động sản và lệ phí trước bạ nhà đất tổng số tiền 7.500.000đ rồi thông báo cho anh Đ2 và yêu cầu anh Đ2 đưa số tiền 13.500.000 đồng; anh Đ2 thông báo cho chị P thì được chị P đưa số tiền 10.000.000 đồng, còn 3.500.000 đồng khi nào có bìa đất P sẽ đưa cho amh Đông. Sau khi nhận tiền từ chị P, ngày 21/06/2022 anh Đ2 sử dụng số tài khoản 899898699999 (Ngân hàng M6) mang tên Trần Quang Đ2 chuyển đến số tài khoản 51310000366083 (Ngân hàng B) mang tên Trần Thị Thanh N số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, M tiến hành viết bìa đất và trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Ngày 27/6/2022 N đến bộ phận một cửa UBND thị xã T nộp lệ phí thẩm định, lệ phí cấp bìa tổng số tiền 420.000 đồng và lấy bìa đất về giao cho Đ2. Ngày 06/7/2022, N sử dụng số tài khoản 51310000366083 (Ngân hàng B) mang tên Trần Thị Thanh N chuyển đến số tài khoản 51310000079974 (Ngân hàng B) mang tên Nguyễn Thị M số tiền 10.000.000 đồng gồm 8.500.000 đồng là chi phí làm nhanh 03 (ba) bộ hồ sơ, số tiền 1.500.000 đồng còn lại là số tiền trả nợ. Do thông tin bìa đất có một số sai sót nên amh Đ2 yêu cầu N sửa lại. Đến đầu tháng 8/2022, sau khi bìa đất đã được chỉnh sửa xong N thông báo cho anh Đ2 đến UBND thị xã T để lấy bìa. Hiện tại anh Đ2 chưa thanh toán số tiền 3.500.000 đồng còn thiếu cho N, N đã đưa lại cho anh Đ2 số tiền 1.000.000 đồng (anh Đ2 đã đưa lại số tiền này cho chị Lê Thị P). Đối với vụ này, ban đầu N yêu cầu anh Đ2 phải đưa số tiền 13.500.000 đồng nhằm chi những khoản sau: chuyển chi phí làm nhanh cho Nguyễn Thị M số tiền 3.500.000 đồng (M nộp phí bưu điện chuyển hồ sơ số tiền 26.000 đồng), nộp tiền thuế 7.500.000 đồng, nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa số tiền 420.000 đồng, còn lại 2.080.000 đồng là số tiền Trần Thị Thanh N có ý định thu lợi. Do anh Đ2 mới chuyển cho N số tiền 10.000.000 đồng và sau khi hoàn thành bìa đất thì Nguyễn Thị M bị bắt, khởi tố nên Trần Thị Thanh N không thu thêm số tiền 3.500.000 đồng còn thiếu và chuyển lại cho anh Trần Quang Đ2 (Lê Thị P) số tiền 1.000.000 đồng. Như vậy, chị Lê Thị P bị thiệt hại số tiền 1.054.000 đồng, Nguyễn Thị M vụ lợi số tiền 3.474.000 đồng (trong số tiền vụ lợi của Nguyễn Thị M có số tiền 2.420.000 đồng Trần Thị Thanh N đã tự bỏ ra để nộp các khoản phí theo quy định). Trong vụ này Trần Thị Thanh N chưa vụ lợi.

Vụ thứ tư: Vào tháng 02/2022, anh Hà Văn N2 đặt cọc mua thửa đất số 280, tờ bản đồ số 51 có địa chỉ tại xóm T, xã T, thị xã T, Nghệ An của anh Thái Doãn D1 nhằm mục đích bán kiếm lời. Sau đó, thửa đất này được gia đình anh Trần Minh H1 mua lại. Anh N2 liên hệ N để làm nhanh thủ tục “Chuyển nhượng” từ anh D1 sang cho anh Trần Minh H1. Đối với thủ tục chuyển nhượng nguyên thửa giữa N và M đã thống nhất chi phí làm nhanh nên N đồng ý và yêu cầu anh N2 phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 3.000.000 đồng (không bao gồm các chi phí phải nộp theo quy định). Anh N2 vì muốn nhanh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đồng ý đưa khoản tiền theo yêu cầu của N. Nhàn nhận hồ sơ từ anh N2 và chuyển lại cho M để hoàn thiện hồ sơ ban đầu. Ngày 10/02/2022, M nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND thị xã T thông qua dịch vụ bưu điện với chi phí 26.000 đồng, sau đó gặp Lãnh đạo chi nhánh để xin thụ lý hồ sơ. Bằng cách thức, trình tự như các vụ trên, đã làm nhanh thủ tục thẩm định cho đến khi có thông báo nộp tiền thuế. Sau khi nhận được thông báo nộp tiền, N thông báo cho anh N2 biết, ngày 26/02/2022 N2 sử dụng số tài khoản 51310000588832 (Ngân hàng B) mang tên Hà Văn N2 chuyển đến số tài khoản 51310000366083 (Ngân hàng B) mang tên Trần Thị Thanh N số tiền 10.000.000 đồng, trong đó 6.250.000 đồng là tiến thuế và lệ phí trước bạ, 3.000.000 đồng là số tiền N yêu cầu, 650.000 đồng là số tiền anh N2 trả nợ trước đó và 100.000 đồng là chi phí lấy bìa đất. Ngày 01/3/2022, N đến Ngân hàng TMCP Đ4-CN Phủ Quỳ để nộp Thuế thu từ chuyển nhượng bất động sản và lệ phí trước bạ nhà đất tổng số tiền 6.250.000 đồng. Nhàn đưa hóa đơn hoàn thành nghĩa vụ tài chính để M tiến hành viết bìa đất và trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Ngày 07/3/2022 N đến bộ phận một cửa UBND thị xã T nộp lệ phí thẩm định, lệ phí cấp bìa số tiền 100.000 đồng và nhận bìa đất đưa lại cho Hà Văn N2. Đến ngày 04/4/2022, Trần Thị Thanh N sử dụng số tài khoản 51310000366083 (Ngân hàng B) mang tên Trần Thị Thanh N chuyển đến số tài khoản 51310000079974 (Ngân hàng B) mang tên Nguyễn Thị M số tiền 6.000.000 đồng trong đó 2.500.000 đồng là chi phí làm nhanh bộ hồ sơ này, số tiền còn lại liên quan đến hồ sơ khác và trả tiền nợ cho M. Đối với vụ này, Trần Thị Thanh N yêu cầu Hà Văn N2 phải đưa chi phí làm nhanh thủ tục chuyển nhượng số tiền 3.000.000 đồng; N chuyển chi phí làm nhanh theo yêu cầu của M số tiền 2.500.000 đồng (M nộp phí chuyển hồ sơ đến bộ phận một cửa qua đường bưu điện số tiền 26.000 đồng). Như vậy, số tiền Hà Văn N2 thiệt hại số tiền 2.974.000 đồng, trong đó Trần Thị Thanh N vụ lợi số tiền 500.000 đồng, Nguyễn Thi M5 vụ lợi số tiền 2.474.000 đồng.

Vụ thứ năm: Vào tháng 3/2022, anh Hà Văn N2 đặt cọc mua thửa đất số 282, tờ bản đồ số 31 có địa chỉ tại xóm H, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An của anh Đỗ Đức Q1 nhằm mục đích bán kiếm lời. Sau đó, thửa đất này được gia đình anh Vũ Đức T6 mua lại. Hà Văn N2 liên hệ Trần Thị Thanh N để làm nhanh bìa đất với thủ tục “Chuyển nhượng” từ ông Đỗ Đức Q1 sang cho anh Vũ Đức T6. Đối với thủ tục chuyển nhượng nguyên thửa giữa N và M5 đã thống nhất chi phí làm nhanh nên N đồng ý và yêu cầu anh N2 phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 3.000.000 đồng (không bao gồm các chi phí phải nộp theo quy định). Anh N2 vì muốn nhanh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đồng ý đưa khoản tiền theo yêu cầu của N. Nhàn nhận hồ sơ từ anh N2 và bàn giao lại cho M5 để hoàn thiện hồ sơ ban đầu. Ngày 23/3/2022, M5 trực tiếp nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND thị xã T. Bằng cách thức tương tự như các vụ trên, M5 đã làm nhanh thủ tục thẩm định cho đến khi có thông báo nộp tiền thuế thì N đã thông báo cho N2 biết, vài ngày sau Hà Văn N2 đưa trực tiếp cho N số tiền 7.210.000 đồng. Ngày 12/4/2022 N đến Ngân hàng TMCP Đ4-CN Phủ Quỳ để nộp Thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản và lệ phí trước bạ nhà đất tổng số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, N đưa hóa đơn nộp tiền cho M5 để M5 tiến hành viết bìa đất, trình ký Lãnh đạo chi nhánh và thông báo để N đến nhận bìa đất. Nhàn đến bộ phận một cửa UBND thị xã T nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa số tiền 210.000 đồng và lấy bìa đất giao lại cho anh Hà Văn N2. Trước đó ngày 04/4/2022, N sử dụng số tài khoản 51310000366083 (Ngân hàng B) mang tên N chuyển đến số tài khoản 51310000079974 (Ngân hàng B) mang tên Nguyễn Thị M số tiền 6.000.000 đồng, trong đó 2.500.000 đồng là chi phí làm nhanh bộ hồ sơ này, số tiền còn lại liên quan đến hồ sơ trước đó và trả tiền nợ cho M. Đối với vụ này, Trần Thị Thanh N yêu cầu Hà Văn N2 phải đưa chi phí làm nhanh thủ tục chuyển nhượng số tiền 3.000.000 đồng. Như vậy, số tiền Hà Văn N2 thiệt hại số tiền 3.000.000 đồng, trong đó Trần Thị Thanh N vụ lợi số tiền 500.000 đồng, Nguyễn Thi M5 vụ lợi số tiền 2.500.000 đồng.

Vụ thứ sáu: Vào tháng 3/2022, chị Hoàng Thị Kim C2 mua thửa đất số 165 tờ bản đồ số 16 có địa chỉ tại xóm D, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An của gia đình anh Nguyễn Ngọc N3. Kim C2 liên hệ Trần Thị Thanh N để làm nhanh bìa đất với thủ tục “Chuyển nhượng” từ anh Nguyễn Ngọc N3 sang cho sang chi chị Hoàng Thị Kim C2. Đối với thủ tục chuyển nhượng nguyên thửa giữa N và M5 đã thống nhất chi phí làm nhanh nên N đồng ý và yêu cầu chị Hoàng Thị Kim C2 phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 3.000.000 đồng (không bao gồm các chi phí phải nộp theo quy định). Chị Hoàng Thị Kim C2 vì muốn nhanh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đồng ý đưa khoản tiền theo yêu cầu của N. Nhàn nhận hồ sơ từ chị Hoàng Thị Kim C2 và bàn giao lại cho Nguyễn Thị M để hoàn thiện hồ sơ ban đầu. Ngày 29/3/2022, Nguyễn Thị M nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND thị xã T thông qua dịch vụ bưu điện với chi phí 26.000 đồng, sau đó gặp Lãnh đạo chi nhánh để xin thụ lý hồ sơ. Bằng cách thức tương tự như các vụ trên, Nguyễn Thị M đã làm nhanh thủ tục thẩm định cho đến khi có thông báo nộp tiền thuế. Sau khi nhận được thông báo nộp tiền thuế, Trần Thị Thanh N đã thông báo cho chị Hoàng Thị Kim C2 biết, ngày 14/4/2022 Hoàng Thị Kim C2 sử dụng số tài khoản 161626868 (Ngân hàng A2) mang tên Hoàng Thị Kim C2 chuyển đến số tài khoản 51310000366083 (Ngân hàng B) mang tên Trần Thị Thanh N số tiền 13.500.000 đồng. Ngày 15/4/2022 Trần Thị Thanh N đến Ngân hàng TMCP Đ4-CN Phủ Quỳ để nộp Thuế thu từ chuyển nhượng bất động sản và lệ phí trước bạ nhà đất tổng số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, Trần Thị Thanh N đưa hóa đơn nộp tiền cho Nguyễn Thị M để Nguyễn Thị M tiến hành viết bìa đất và trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Ngày 24/4/2022 Trần Thị Thanh N đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để lấy bìa đất đồng thời nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa số tiền 100.000đ rồi đưa bìa đất cho Hoàng Thị Kim C2. Ngày 06/7/2022, Trần Thị Thanh N sử dụng số tài khoản 51310000366083 (Ngân hàng B) mang tên Trần Thị Thanh N chuyển đến số tài khoản 51310000079974 (Ngân hàng B) mang tên Nguyễn Thị M số tiền 10.000.000 đồng gồm 8.500.000 đồng là chi phí làm nhanh 03 (ba) bộ hồ sơ (trong đó có bộ hồ sơ này), số tiền 1.500.000 đồng còn lại là số tiền N trả nợ cho M. Đối với vụ này, Trần Thị Thanh N yêu cầu chị Hoàng Thị Kim C2 phải đưa chi phí làm nhanh thủ tục chuyển nhượng số tiền 3.000.000 đồng (chị Hoàng Thị Kim C2 cho riêng Trần Thị Thanh N số tiền 500.000 đồng), N chuyển chi phí làm nhanh cho Nguyễn Thị M số tiền 2.500.000 đồng (M nộp phí bưu điện chuyển hồ sơ số tiền 26.000 đồng). Như vậy, chị Hoàng Thị Kim C2 thiệt hại số tiền 2.874.000 đồng, trong đó Trần Thị Thanh N vụ lợi số tiền 400.000 đồng, Nguyễn Thi M5 vụ lợi số tiền 2.474.000 đồng.

Vụ thứ bảy: Vào tháng 04/2022, anh Nguyễn Hữu T7 và anh Nguyễn Thanh H2 chung nhau mua thửa đất số 47, tờ bản đồ số 41 có địa chỉ tại xóm H, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An của gia đình chị Nguyễn Thị Lan A; anh T7 liên hệ với N để làm nhanh thủ tục “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Đối với thủ tục chuyển nhượng nguyên thửa giữa N và M5 đã thống nhất chi phí làm nhanh mỗi hồ sơ 2.500.000 đồng nên N đồng ý và yêu cầu anh T7 phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 3.000.000 đồng (không bao gồm các chi phí phải nộp theo quy định). Anh T7 vì muốn nhanh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đồng ý đưa khoản tiền theo yêu cầu của N. Nhàn nhận hồ sơ từ anh T7 và bàn giao lại cho M5 để hoàn thiện hồ sơ ban đầu. Ngày 05/5/2022, M5 trực tiếp nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND thị xã T, sau đó gặp Lãnh đạo chi nhánh để xin thụ lý hồ sơ. Bằng cách thức tương tự như các vụ trên, M5 đã làm nhanh thủ tục thẩm định cho đến khi có thông báo nộp tiền thuế. Sau khi nhận được thông báo nộp tiền thuế, N đã thông báo cho anh T7 biết. Ngày 08/6/2022 N đến Ngân hàng TMCP Đ4-CN Phủ Quỳ để nộp Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản, lệ phí trước bạ nhà đất và tiền thu từ đất ở tại nông thôn với tổng số tiền 15.270.000 đồng. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, N đưa hóa đơn nộp tiền cho M5 để M5 tiến hành viết bìa đất và trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Ngày 07/7/2022 N đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để lấy bìa đất đồng thời nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa số tiền 210.000 đồng. Ngày 21/7/2022 anh T7 sử dụng số tài khoản 51399001137777 (Ngân hàng B) mang tên Nguyễn Hữu T7 đến số tài khoản 51310000366083 (Ngân hàng B) mang tên Trần Thị Thanh N số tiền 20.000.000 đồng (trong số tiền này, Nguyễn Văn T8 trả nợ cho N số tiền 1.730.000 đồng) và đưa 210.000 đồng tiền mặt là chi phí thẩm định hồ sơ và lệ phí cấp bìa. Trước đó, ngày 06/7/2022 N sử dụng số tài khoản 51310000366083 (Ngân hàng B) mang tên Trần Thị Thanh N chuyển đến số tài khoản 51310000079974 (Ngân hàng B) mang tên Nguyễn Thị M số tiền 10.000.000 đồng gồm 8.500.000 đồng là chi phí làm nhanh 03 (ba) bộ hồ sơ (trong đó có bộ hồ sơ này), số tiền 1.500.000 đồng còn lại là số tiền N trả nợ cho M. Đối với vụ này, N yêu cầu Nguyễn Hữu T7 phải đưa chi phí làm nhanh thủ tục chuyển nhượng số tiền 3.000.000 đồng (không bao gồm các chi phí theo quy định). Như vậy, anh Nguyễn Hữu T7 thiệt hại số tiền 3.000.000 đồng, trong đó Trần Thị Thanh N vụ lợi số tiền 500.000 đồng, Nguyễn Thi M5 vụ lợi số tiền 2.500.000 đồng.

Vụ thứ tám: Vào khoảng tháng 12/2021 anh Lê Mạnh H3 được bà Nguyễn Thị H4 tặng cho thửa đất số 23, tờ bản đồ số 20, có địa chỉ tại khối P, phường Q, thị xã T. Anh H3 liên hệ với N để làm nhanh thủ tục “Tặng cho quyền sử dụng đất”. Đối với thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa N và M5 đã thống nhất chi phí làm nhanh mỗi hồ sơ 2.500.000 đồng nên N nhận làm nhanh và yêu cầu anh H3 phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 3.000.000 đồng (không bao gồm các chi phí phải nộp theo quy định). Anh H3 vì muốn nhanh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đồng ý đưa khoản tiền theo yêu cầu của N. Nhàn nhận hồ sơ từ anh H3 và bàn giao lại cho M5 để hoàn thiện hồ sơ ban đầu. Ngày 07/01/2022, M5 nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND thị xã T thông qua dịch vụ bưu điện với chi phí 26.000 đồng, sau đó gặp Lãnh đạo chi nhánh để xin thụ lý hồ sơ. Bằng cách thức tương tự như các vụ trên, M5 đã làm nhanh thủ tục thẩm định cho đến khi có thông báo nộp tiền thuế. Vì là loại hồ sơ “Tặng cho” nên không mất tiền thuế và lệ phí trước bạ. Ngày 17/2/2022, N đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để lấy bìa đất đồng thời nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa số tiền 220.000 đồng rồi thông báo cho anh H3 đến Văn phòng C để nhận bìa. Tại Văn phòng C, anh H3 đã đưa cho N số tiền 3.000.000 đồng, sau đó N đã đưa cho M5 số tiền 2.500.000 đồng chi phí làm nhanh như thoả thuận trước đó. Đối với vụ này, N yêu cầu anh H3 phải đưa chi phí làm nhanh thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất số tiền 3.000.000 đồng, trong số tiền này N đã chi tiền phí thẩm định và lệ phí cấp bìa số tiền 220.000 đồng; đưa chi phí làm nhanh cho M5 số tiền 2.500.000 đồng. Như vậy, anh Lê Mạnh H3 thiệt hại số tiền 2.754.000 đồng, trong đó Trần Thị Thanh N vụ lợi số tiền 280.000 đồng, Nguyễn Thi M5 vụ lợi số tiền 2.474.000 đồng.

Vụ thứ chín: Vào tháng 3/2022, anh Phan Doãn S3 mua thửa đất số 283 (lô A6), tờ bản đồ số 16, có địa chỉ tại xóm D, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An) của gia đình ông Nguyễn Bá T9. Anh S3 liên hệ với N để làm nhanh thủ tục “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Đối với thủ tục chuyển nhượng nguyên thửa giữa N và M5 đã thống nhất chi phí làm nhanh mỗi hồ sơ 2.500.000 đồng nên N đồng ý và yêu cầu anh S3 phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 3.000.000 đồng (không bao gồm các chi phí phải nộp theo quy định). Anh S3 vì muốn nhanh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đồng ý đưa khoản tiền theo yêu cầu của N. Nhàn nhận hồ sơ từ anh S3 và bàn giao lại cho M5 để hoàn thiện hồ sơ ban đầu. Ngày 17/3/2022, M5 nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND thị xã T thông qua dịch vụ bưu điện với chi phí 26.000 đồng, sau đó gặp Lãnh đạo chi nhánh để xin thụ lý hồ sơ. Bằng cách thức tương tự như các vụ trên, M5 đã làm nhanh thủ tục thẩm định cho đến khi có thông báo nộp tiền thuế. Sau khi nhận được thông báo nộp tiền thuế, N đã thông báo cho anh S3 biết. Ngày 4/4/2022, N đến Ngân hàng TMCP Đ4-CN Phủ Quỳ để nộp Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản, lệ phí trước bạ nhà đất và tiền thu từ đất ở tại nông thôn tổng số tiền 20.012.500 đồng, sau đó anh S3 đã thanh toán đầy đủ số tiền này cho N. N đưa hóa đơn nộp tiền cho M5 để M5 tiến hành viết bìa đất và trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Sau khi có bìa đất, N đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để lấy bìa đất đồng thời nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa số tiền 100.000đ rồi thông báo cho anh S3 đến văn phòng C để nhận bìa. Tại đây, anh S3 thanh toán cho N chi phí làm nhanh số tiền 3.000.000 đồng và 100.000 đồng phí thẩm định và lệ phí cấp bìa; N đưa chi phí làm nhanh cho Nguyễn Thị M số tiền 2.500.000 đồng. Đối với vụ này, N yêu cầu anh S3 phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 3.000.000 đồng (không bao gồm các khoản chi theo quy định); N đưa cho M số tiền 2.500.000 đồng (chi phí bưu điện gửi hồ sơ vào bộ phận một cửa số tiền 26.000 đồng). Như vậy, anh S3 thiệt hại số tiền 2.974.000 đồng, trong đó Trần Thị Thanh N vụ lợi số tiền 500.000 đồng, Nguyễn Thi M5 vụ lợi số tiền 2.474.000 đồng.

Vụ thứ mười: Vào khoảng tháng 3/2022, anh Lương Tú N4 đặt cọc mua thửa đất số 320, tờ bản đồ số 07 có địa chỉ tại khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An) của anh Đậu Ngọc D2 nhằm mục đích bán kiếm lời. Sau đó, thửa đất trên được gia đình anh Nguyễn Danh Đ3 mua lại. Anh Lương Tú N4 liên hệ với Trần Thị Thanh N để làm nhanh thủ tục “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Đối với thủ tục chuyển nhượng nguyên thửa giữa N và M5 đã thống nhất chi phí làm nhanh mỗi hồ sơ 2.500.000 đồng nên N đồng ý và yêu cầu anh N4 phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 3.000.000 đồng (không bao gồm các chi phí phải nộp theo quy định). Anh N4 vì muốn nhanh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hoàn tất giao dịch chuyển nhượng nên đồng ý đưa khoản tiền theo yêu cầu của N; N nhận hồ sơ từ anh N4 và bàn giao lại cho M5 để hoàn thiện hồ sơ ban đầu. Ngày 10/3/2022, M5 nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND thị xã T thông qua dịch vụ bưu điện với chi phí 26.000 đồng, sau đó gặp Lãnh đạo chi nhánh để xin thụ lý hồ sơ. Bằng cách thức tương tự như các vụ trên, M5 đã làm nhanh thủ tục thẩm định cho đến khi có thông báo nộp tiền thuế. Sau khi nhận được thông báo nộp tiền, N đã đưa lại cho anh N4 để đi đóng thuế. Đến ngày 28/3/2022, sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, anh N4 đưa hóa đơn nộp tiền cho N và N đưa cho M5 để tiến hành viết bìa đất và trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Sau khi có bìa đất, ngày 14/4/2022 N đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để lấy bìa đất đồng thời nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa số tiền 210.000 đồng rồi thông báo cho anh N4 đến văn phòng C để nhận bìa. Tại đây, anh N4 đã đưa tiền mặt cho N chi phí làm nhanh thủ tục chuyển nhượng số tiền 3.000.000 đồng và 210.000 đồng phí thẩm định, lệ phí cấp bìa; N đã đưa cho M5 chi phí làm nhanh số tiền 2.500.000 đồng. Đối với vụ này, N yêu cầu anh N4 phải đưa chi phí làm nhanh thủ tục chuyển nhượng số tiền 3.000.000 đồng; N chuyển chi phí làm nhanh cho M5 số tiền 2.500.000 đồng (M5 chi tiền phí gửi hồ sơ qua bưu điện số tiền 26.000 đồng). Như vậy, anh Lương Tú N4 thiệt hại số tiền 2.974.000 đồng, trong đó Trần Thị Thanh N vụ lợi số tiền 500.000 đồng, Nguyễn Thi M5 vụ lợi số tiền 2.474.000 đồng.

Vụ thứ mười một: Vào khoảng tháng 4/2022, anh Lương Tú N4 đặt cọc mua thửa đất số 263, tờ bản đồ số 09 có địa chỉ khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An của chị Nguyễn Thị N5 nhằm mục đích bán kiếm lời. Sau đó, thửa đất trên được gia đình anh Nguyễn Ngọc H5 mua lại. Anh N4 liên hệ với N để làm nhanh thủ tục “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Đối với thủ tục chuyển nhượng nguyên thửa giữa N và M5 đã thống nhất chi phí làm nhanh mỗi hồ sơ 2.500.000 đồng nên N đồng ý và yêu cầu anh N4 phải đưa chi phí làm nhanh số tiền 3.000.000 đồng (không bao gồm các chi phí phải nộp theo quy định). Anh N4 vì muốn nhanh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hoàn tất giao dịch chuyển nhượng nên đồng ý đưa khoản tiền theo yêu cầu của N; N nhận hồ sơ từ anh N4 và bàn giao lại cho M5 để hoàn thiện hồ sơ ban đầu. Ngày 18/4/2022, M5 nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND thị xã T, sau đó gặp Lãnh đạo chi nhánh để xin thụ lý hồ sơ. Bằng cách thức tương tự như các vụ trên, M5 đã làm nhanh thủ tục thẩm định cho đến khi có thông báo nộp tiền thuế. Sau khi nhận được thông báo nộp tiền, N đã đưa lại cho anh N4 để đi đóng thuế. Ngày 10/5/2022, sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, anh N4 đưa hóa đơn nộp tiền cho N, tiếp đó N đưa cho M5 để M5 tiến hành viết bìa đất và trình ký Lãnh đạo chi nhánh. Sau khi có bìa đất, ngày 11/5/2022 N đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để lấy bìa đất đồng thời nộp lệ phí thẩm định và lệ phí cấp bìa số tiền 100.000 đồng rồi thông báo cho anh N4 đến văn phòng C để nhận lại bìa. Tại đây, anh N4 đã thanh toán chi phí làm nhanh thủ tục chuyển nhượng cho N số tiền 3.000.000 đồng và 100.000 đồng phí thẩm định; N đã đưa cho M5 chi phí làm nhanh số tiền 2.500.000 đồng. Đối với vụ này, N yêu cầu anh N4 phải đưa chi phí làm nhanh thủ tục chuyển nhượng số tiền 3.000.000 đồng; N chuyển chi phí làm nhanh cho M5 số tiền 2.500.000 đồng (M5 chi tiền phí gửi hồ sơ qua bưu điện số tiền 26.000 đồng). Như vậy, anh Lương Tú N4 thiệt hại số tiền 2.974.000 đồng, trong đó Trần Thị Thanh N vụ lợi số tiền 500.000 đồng, Nguyễn Thi M5 vụ lợi số tiền 2.474.000 đồng.

Hành vi của Nguyễn Thị M:

Trong năm 2021, năm 2022, ngoài 01 hành vi đồng phạm với Hồ Văn M2, 11 hành vi đồng phạm với Trần Thị Thanh N nêu trên, Nguyễn Thị M còn thực hiện 03 hành vi độc lập.

Đối với 03 hành vi này Nguyễn Thị M thực hiện trình tự các bước cụ thể như sau: Vũ Văn H6 là thành viên của Văn phòng G, được cử để thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai của văn phòng. Trong hoạt động kinh doanh, Văn phòng G thực hiện việc đặt cọc mua các thửa đất để bán lại kiếm lời. Nhằm tăng giá trị của các thửa đất và để thuận tiện trong các giao dịch chuyển nhượng, Văn phòng G sẽ tiến hành các thủ tục để chuyển từ bìa đỏ sang bìa hồng, cấp đổi tăng diện tích đất ở, tách thửa và chuyển nhượng để kiếm lời. Sau khi tiến hành đặt cọc đối với các thửa đất, Vũ Văn H6 sẽ hoàn tất hồ sơ cấp đổi ban đầu nộp vào bộ phận một cửa UBND thị xã T. Khi biết Nguyễn Thị M trực tiếp thẩm định hồ sơ thì Vũ Văn H6 sẽ liên hệ để nhờ Nguyễn Thị M làm nhanh thủ tục thẩm định thì M đồng ý. Vũ Văn H6 đưa chi phí làm nhanh hồ sơ cấp đổi cho Nguyễn Thị M bằng cách chuyển khoản: Vũ Văn H6 sử dụng số tài khoản 3611205045261 (Ngân hàng A1) mang tên Vũ Văn H6 chuyển đến số tài khoản 51310000079974 (Ngân hàng B) mang tên Nguyễn Thị M, số tiền cụ thể tuỳ thuộc vào từng hồ sơ.

Để làm nhanh thủ tục cấp đổi, Nguyễn Thị M ưu tiên thẩm định bộ hồ sơ của Vũ Văn H6 trước, sớm trình ký lãnh đạo chi nhánh và chuyển qua giai đoạn thực hiện nghĩa vụ tài chính. Để rút ngắn thời gian, M thực hiện một số công việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình như trực tiếp đưa hồ sơ đến Chi cục thuế khu vực Phủ quỳ II và sau khi có thông báo nộp tiền thuế M trực tiếp đến lấy mà không được sự phân giao của lãnh đạo chi nhánh và không thông qua cán bộ có nhiệm vụ luân chuyển hồ sơ thuế là anh Đinh Lê N1 (cán bộ của Chi nhánh văn phòng cấp đất thị xã T). M sẽ thông báo để anh H6 thực hiện nghĩa vụ tài chính (nếu có). Sau đó tiến hành viết bìa, trình ký lãnh đạo và thông báo để anh H6 lên bộ phận một cửa UBND thị xã T nhận lại bìa và nộp các khoản lệ phí theo quy định.

Với cách thức tương tự nhau, M đã thực hiện 03 hành vi, gây thiệt hại và vụ lợi tổng số tiền 35.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng tháng 7/2021, Văn phòng G đặt cọc mua thửa đất số 93, tờ bản đồ số 04 có địa chỉ tại khối L, L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An của gia đình ông Hồ Phúc Q2 nhằm mục đích kiếm lời. Để thuận lợi trong quá trình mua bán, Vũ Văn H6 đã hoàn thiện hồ sơ “Cấp đổi” giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đất) từ bìa đỏ sang bìa hồng cho thửa đất trên. Ngày 6/7/2021, anh H6 nộp hồ sơ lên bộ phận một cửa UBND thị xã T. Sau khi biết M được phân công thẩm định bộ hồ sơ trên, anh H6 đã liên hệ với M để thẩm định nhanh bộ hồ sơ này đồng thời đưa ra chi phí làm nhanh là 15.000.000 đồng thì được M đồng ý. Ngày 26/7/2021, anh H6 chuyển khoản cho M số tiền 15.000.000 đồng. M đã ưu tiên thẩm định hồ sơ này trước và tiến hành các bước để viết bìa và trình ký lạnh đạo sớm nhất. Ngày 26/11/2021 anh H6 lên bộ phận một cửa UBND thị xã T để nhận bìa và nộp các khoản lệ phí theo quy định. Đối với vụ này, M nhận chi phí làm nhanh của anh Hiệu số tiền 15.000.000 đồn; M trình bày: quá trình làm nhanh hồ sơ đã chi phí cho Nguyễn Đức V (thời điểm đó là Giám đốc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T) số tiền 4.000.000 đồng nhưng Nguyễn Thị M không cung cấp được tài liệu chứng minh, mặt khác quá trình làm việc Nguyễn Đức V không thừa nhận việc nhận số tiền trên từ Nguyễn Thị M. Như vậy, Vũ Văn H6 thiệt hại số tiền 15.000.000 đồng và Nguyễn Thi M5 vụ lợi toàn bộ số tiền này.

Vụ thứ hai: Vào khoảng tháng 8/2021, Văn phòng G đặt cọc mua thửa đất số 104, tờ bản đồ số 9 có địa chỉ tại khối L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An của gia đình ông Lê Văn H7 nhằm mục đích kiếm lời. Để thuận lợi trong quá trình mua bán, anh H6 đã hoàn thiện hồ sơ “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất” từ ông Phạm Đức N6 sang gia đình ông Lê Văn H7 và cấp đổi từ bìa đỏ sang bìa hồng cho thửa đất trên. Ngày 11/8/2021, anh H6 nộp hồ sơ vào bộ phận một cửa UBND thị xã T. Sau khi biết M5 được phân công thẩm định bộ hồ sơ này, anh H6 đã liên hệ với M5 để thẩm định nhanh bộ hồ sơ này đồng thời đưa ra chi phí làm nhanh là 10.000.000 đồng thì được M5 đồng ý. Ngày 24/8/2021, anh H6 chuyển khoản cho M5 số tiền 10.000.000 đồng; M5 đã ưu tiên thẩm định hồ sơ này trước và tiến hành các bước để viết bìa và trình ký lãnh đạo sớm nhất. Ngày 10/9/2021, anh H6 đến bộ phận một cửa UBND thị xã T để nhận bìa. Tiếp đó anh H6 hoàn thiện hồ sơ ban đầu đối với thủ tục cấp đổi từ bìa đỏ sang bìa hồng cho thửa đất trên. Ngày 20/9/2021, anh H6 nộp hồ sơ lên bộ phận một cửa UBND thị xã T. Quá trình thẩm định, M5 thực hiện các bước tương tự như thủ tục trên. Đến ngày 14/10/2021, anh H6 lên bộ phận một cửa UBND thị xã T để lấy bìa đất và nộp các khoản lệ phí theo quy định. Đối với vụ này, M5 nhận chi phí làm nhanh của anh Hiệu số tiền 10.000.000 đồng; M5 trình bày: quá trình làm nhanh hồ sơ đã chi phí cho Đỗ Thị T10 (là Phó Giám đốc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T) số tiền 2.000.000 đồng nhưng Nguyễn Thị M không cung cấp được tài liệu chứng minh, mặt khác quá trình làm việc Đỗ Thị T10 không thừa nhận việc nhận số tiền trên từ Nguyễn Thị M. Như vậy, Vũ Văn H6 thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng và Nguyễn Thi M5 vụ lợi toàn bộ số tiền này.

Vụ thứ ba: Vào khoảng tháng 01/2021, Văn phòng G đặt cọc mua thửa đất số 70, tờ bản đồ số 37 có địa chỉ tại xóm Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An của gia đình ông Nguyễn Quốc C3 nhằm mục đích kiếm lời. Để thuận lợi trong quá trình mua bán, Vũ Văn H6 đã hoàn thiện hồ sơ Cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ từ bìa đỏ sang bìa hồng cho thửa đất trên. Ngày 10/01/2022, anh H6 nộp hồ sơ lên bộ phận một cửa UBND thị xã T. Sau khi biết M5 được phân công thẩm định bộ hồ sơ này, anh H6 đã liên hệ với M5 để thẩm định nhanh bộ hồ sơ này đồng thời đưa ra chi phí làm nhanh là 10.000.000 đồng thì được M5 đồng ý. Ngày 12/01/2021, anh H6 chuyển khoản cho M5 số tiền 10.000.000 đồng; M5 đã ưu tiên thẩm định hồ sơ này trước và tiến hành các bước để viết bìa và trình ký lãnh đạo sớm nhất. Sau đó, anh H6 lên bộ phận một cửa UBND thị xã T để lấy bìa và nộp các khoản lệ phí theo quy định. Đối với vụ này, M5 nhận chi phí làm nhanh của anh Hiệu số tiền 10.000.000 đồng; M5 trình bày: quá trình làm nhanh hồ sơ đã chi phí cho Đỗ Thị T10 (là Phó Giám đốc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T) số tiền 2.000.000 đồng nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh, mặt khác quá trình làm việc Đỗ Thị T10 không thừa nhận việc nhận số tiền trên từ M5. Như vậy, Vũ Văn H6 thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng và Nguyễn Thi M5 vụ lợi toàn bộ số tiền này.

Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

  1. Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 356; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 - Bộ luật hình sự :
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 28 (hai mươi tám) tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/07/2022 đến ngày 23/12/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.

Ngày 04 tháng 7 năm 2023, bị cáo Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
  2. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M được làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức bảo đảm đúng quy định tại các Điều 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự nên là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

  3. Nội dung vụ án:
  4. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị M thừa nhận bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Lợi dụng chức vụ, quyên hạn trong khi thi hành công vụ ” là đúng, không oan sai; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình xét xử sơ thẩm cũng như tại phiên toà hôm nay nên đủ căn cứ để xác định: Trong các năm 2021, 2022, lợi dụng việc người dân thiếu hiểu biết về thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai và mong muốn làm nhanh thủ tục cấp đổi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tách thửa, chuyển nhượng đất đai; Trần Văn D, Nguyễn Thị M là viên chức làm việc tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã T đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được phân công là thẩm định hồ sơ, được sự giúp sức của Hồ Văn M2 là công chức địa chính UBND phường Q và Trần Thị Thanh N là nhân viên văn phòng công chứng, thực hiện nhiều hành vi sai nguyên tắc, trái công vụ, không đúng chức năng nhiệm vụ được giao, thu không đúng quy định của người dân, nhăm đạt được lợi ích vật chất, gây thiệt hại vê tài sản, quyên và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, trực tiêp xâm phạm đên sự hoạt động đúng đăn của Cơ quan Nhà nước là UBND thị xã T, làm mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào Nhà nước trong đó: Hồ Văn M2 đã có 01 hành vi đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Thị M, 02 hành vị đồng phạm giúp sức cho Trần Văn D để làm nhanh các thủ tục liên quan đến quyền sử dụng đất, gây thiệt hại cho anh Lê Thái S 02 lần tổng số tiền 52.938.000 đồng, gây thiệt hại cho chị Nguyễn Thị L 40.000.000 đồng, tổng số tiền Hồ Văn M2 gây thiệt hại là 92.938.000 đồng, đã vụ lợi tổng số tiền 20.938.000 đồng. Trần Văn D đã thực hiện 02 hành vi đồng phạm với Hồ Văn M2, 02 hành vi độc lập để làm nhanh thủ tục cấp đổi, tách thửa, chuyển nhượng quyền sử dụng đất; gây thiệt hại cho chị Nguyễn Thị L số tiền 40.000.000 đồng, anh Lê Thái S số tiền 26.133.000 đồng, ông Vũ Ngọc L2 số tiền 5.255.668 đồng, anh Nguyễn Trọng Đ số tiền 22.502.960 đồng; tổng số tiền Trần Văn D gây thiệt hại là 93.891.628 đồng, đã vụ lợi tổng số tiền là 79.758.628 đồng.

    Nguyễn Thị M đã có 01 hành vi đồng phạm với Hồ Văn M2, 11 hành vi đồng phạm với Trần Thị Thanh N và 03 hành vi độc lập để làm nhanh thủ tục tách thửa, chuyển nhượng, cấp đổi quyền sử dụng đất. Gây thiệt hại cho anh Lê Thái S số tiền 26.805.000 đông; gây thiệt hại cho Văn phòng G, người đại diện là anh Vũ Văn H6 03 lần tổng số tiền 35.000.000 đồng; gây thiệt hại cho chị Vũ Thị Thu H số tiền 9.574.000 đồng; gây thiệt hại cho anh Võ Hùng T5 số tiền 8.730.000 đồng; gây thiệt hại cho chị Lê Thị P số tiền 1,054.000 đồng; gây thiệt hại cho anh Hà Văn N2 02 lần tổng số tiền 5.974.000 đồng; gây thiệt hại cho chị Hoàng Thị Kim C2 số tiền 2.874.000 đồng; gây thiệt hại cho anh Nguyễn Hữu T7 số tiền 3,000.000 đồng; gây thiệt hại cho anh Lê Mạnh H3 số tiền 2.754.000đồng; gây thiệt hại cho anh Phan Doãn S3 số tiền 2.974.000đồng; tổng số tiền Nguyễn Thị M gây thiệt hại là 104.687.000 đồng; Nguyễn Thị M đã vụ lợi tổng số tiền 95.292.000 đồng. Vì vậy, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 28 tháng tù là đã xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, vai trò của bị cáo trong vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết mới là Công văn số 1137/VPĐK-HC ngày 30/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N về việc đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì trong quá trình công tác có nhiều thành tích đóng góp cho hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai, tham gia công tác xã hội thiện nguyện. Những tình tiết mới trên chưa được cấp sơ thẩm xem xét, vì vậy Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để xem xét kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
  6. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M sửa án sơ thẩm, giảm hình phạt tù cho bị cáo.
  2. Căn cứ Điểm b, khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    - Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị M 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2022 đến ngày 23/12/2022.

    Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

  3. Về án phí: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND, VKSND TX.Thái Hòa;
  • - Chi cục THADS TX. Thái Hòa;
  • - Công an TX. Thái Hòa;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hsơ, Toà HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Quang Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80a/2024/HS-PT ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 80a/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger