Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 809/2024/DS-ST

Ngày : 27/9/2024

V/v “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí.
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Bà Nguyễn Thị Thuần
    2. Ông Võ Văn Tốt
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 : Bà Phạm Thị Hồng - Kiểm sát viên.
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12 – Tp ..

Vào ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 495/2023/TLST-DS ngày 12/10/2023 về việc “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1376/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1583/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Xuân A, sinh năm 1965;
  • Địa chỉ thường trú: 7 Tổ I, Khu phố A, phường T, Quận A, Tp ..
  • Đại diện uỷ quyền: Ông Huỳnh Minh Đ, sinh năm 1988 ( Có mặt);
  • Địa chỉ: 1 Tổ F, Khu phố F, phường T, Quận A, Tp ..
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị Xuân A: Luật sư Nguyễn Lan O thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H ( Có mặt);
  • - Bị đơn: Ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị Ngân T1, ông Phạm Văn T2
  • Cùng ngụ tại địa chỉ: 5 Tổ B, Khu phố B, phường T, Quận A, Tp ..
  • Đại diện uỷ quyền của ông T, bà T1, ông T2 là ông Ngô Đình H, sinh năm 1971 ( Có mặt);
  • Địa chỉ: C, Sân vận động Q, số B P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

* Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 7 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị Xuân A ( Đại diện uỷ quyền ông Huỳnh Minh Đ) trình bày :

Vào năm 2020 bà Lê Thị Xuân A có làm thảo hụi để cho mượn vốn làm ăn, lúc này bà Nguyễn Thị Thúy N (người đã mất) đã xin tham gia vào nhiều chân hụi, cụ thể:

  • + Hụi mở ngày 01/08/2022 (vô 2 phần), bà N đã hốt ngày 03/08/2022 số tiền là: 53.280.000 đồng và còn đóng hụi chết là: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến ngày 01/10/2023 là mãn.
  • + Hụi mở ngày 05/03/2023 (vô 2 phần), bà N đã hốt ngày 08/03/2023 số tiền là: 68.600.000 đồng và còn đóng hụi chết là: 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng) đến ngày 05/02/2024 là mãn.
  • + Hụi mở ngày 11/12/2022 (vô 2 phần), bà N đã hốt ngày 14/12/2022 số tiền là: 70.800.000 đồng và còn đóng hụi chết là: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) đến ngày 11/11/2023 là mãn.
  • + Hụi mở ngày 26/11/2022 (vô 1 phần), bà N đã hốt ngày 27/11/2022 số tiền là: 74.320.000 đồng và còn đóng hụi chết là: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) đến ngày 26/10/2023 là mãn.
  • + Hụi mở ngày 15/05/2022 (vô 1 phần), bà N đã hốt ngày 16/05/2022 số tiền là: 75.750.000 đồng và còn đóng hụi chết là: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) đến ngày 15/04/2023 là mãn. Hụi đã mãn nhưng bà N chưa đóng đủ còn thiếu lại 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)
  • + Ngày 06/04/2023 bà N mượn: 3.450.000 đồng đi bệnh viện khám bệnh.

Tuy nhiên, tới 15/04/2023 bà N chưa có khả năng trả nên có nhắn tin xác nhận với bà A trước khi nằm viện bà N còn thiếu: 33.450.000 đồng (Ba mươi ba triệu, bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Trong đó có 30.000.000 đồng còn thiếu của hụi mở ngày 15/05/2022 mãn ngày 15/04/2023.

  • + Trong thời gian bà N nhập viện cuối tháng 5/2023 có mượn lặt vặt nhiều lần: 24.240.000 đồng (Hai mươi bốn triệu, hai trăm bốn mươi ngàn đồng).
  • + Bà A có mượn giùm bà N theo giấy Cam kết bà N ghi ngày 06/05/2023: 87.000.000 đồng (Tám mươi bảy triệu đồng)

Tổng cộng bà N còn nợ bà A: 374.690.000 đồng (Ba trăm bảy mươi bốn triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng).

Bà N có trình bày với bà A: do ảnh hưởng dịch Covid-19, hàng hóa của gia đình và con gái còn đọng lại, nên rất cần số tiền để giải quyết hàng tồn, vì lý do trên nên bà N mới xin bà A cho hốt tất cả những dây hụi, và còn nhờ bà A mượn giùm tiền ngoài thêm (87 triệu đồng) để sửa và lợp tôn phòng trọ. Do lúc đó bà N là chi hội trưởng hội cựu chiến binh KP2 và là tổ phó tổ 24-KP2 – Phường T nên bà A tin tưởng để cho bà N hốt tất cả theo giấy tờ sổ sách liên quan từng dây hụi.

Tất cả những lần nhận hụi và nhờ mượn nợ giùm bà N đều ghi cam kết “nếu sau này tôi có bị sự cố gì thì con tôi là Phạm Thị Ngân T1 hoặc chồng tôi là Phạm Văn T sẽ đóng tiếp cho tôi đến hết hụi, nếu gia đình tôi không làm đúng sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”

Vào ngày 06 tháng 06 năm 2023, bà N đột ngột qua đời do bị bệnh.

Đến ngày 24/07/2023 (tròn 49 ngày kể từ ngày bà N mất): gia đình bà A có qua gặp chồng bà N là ông T và con gái là Phạm Thị Ngân T1. Tại đây bà A có mang giấy tờ kèm chữ viết và ký tên xác nhận của bà N để yêu cầu trả nợ, nhưng chồng và con gái bà N không có ý định trả mà còn thách thức gia đình bà A đi kiện. Con bà N là Phạm Thị Ngân T1 có nói: “tài sản của mẹ đã bán hết cho con”, “hãy xem như má con giựt hụi cô”.

Theo thông tin bà A được biết thì số tiền bà N nợ mục đích chính dùng để chứng minh tài chính cho con gái là Phạm Thị Ngân T1 bổ sung hồ sơ xin đi nước ngoài định cư. Hiện tại Phạm Thị Ngân T1 đang làm thủ tục chuẩn bị đi nước ngoài định cư. Từ đó đến nay bà A nhiều lần đề nghị gia đình bà N trả nợ nhưng không nhận được phản hồi, do đó bà A khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 12 xem xét buộc chồng bà N là Phạm Văn T và con gái bà N là Phạm Thị Ngân T1, con trai bà N là Phạm Văn T2 phải có trách nhiệm hoàn trả lại tổng số tiền bà N còn nợ: 374.690.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm chín mươi nghìn đồng) cho bà Lê Thị Xuân A.

* Bị đơn ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị Ngân T1, ông Phạm Văn T2 ( Đại diện uỷ quyền ông Ngô Đình H) trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thúy N (bà N) mất đột ngột vào ngày 06/6/2023, trước khi mất bà N không dặn dò điều gì với gia đình. Lúc còn sống thì bà N cùng ông T ở nhờ nhà con gái là bà T1 tại địa chỉ 5 tổ B, khu phố B, phường T, quận A. Mọi chi phí sinh hoạt cho cả gia đình đều do vợ chồng bà T1 lo hết.

Lúc bà N còn sống thì với tính tình độc lập và khá hung dữ với chồng con nên mọi vấn đề về sinh hoạt, giao tiếp, giao dịch của bà N thì chỉ một mình bà N được biết, không ai có quyền hỏi han hay can thiệp vào việc riêng của bà N, nếu có ai đề cập đến chuyện riêng của bà N là bà ấy nạt nộ át đi ngay. Vì vậy cả ông T, bà T1 và ông T2 đều không biết bà N giao lưu với những ai, làm những chuyện vì, việc gì. Càng không hề biết bà N có tham gia chơi hụi, hốt hụi hay vay nợ của ai.

Lúc còn sống bà N có làm việc ngoài khu phố (chủ tịch hội cựu chiến binh và tổ phó tổ dân phố) nên bà N thường xuyên vắng mặt ở nhà và giao tiếp với nhiều người bên ngoài chứ ở nhà không biết bà N có những mối quan hệ gì và với ai. Trợ cấp công việc của bà N bao nhiều thì gia đình cũng không biết vì bà N để tiêu xài riêng không cho gia đình biết. Lương hưu của ông T (chồng bà N) thì cũng bà N giữ hết. Ngoài ra hàng tháng vợ chồng con gái (vợ chồng bà T1) còn cho riêng bà N 3 triệu đồng để chi tiêu. Chính vì điều đó mà gia đình không hề biết và cũng không nghĩ đến là bà N có tham gia chơi hụi hay vay nợ ai cả.

Trước ngày bà N mất thì cả ông T, bà T1 và ông T2 đều không biết bà Lê Thị Xuân A là ai và cũng không thấy bà A đến nhà hay qua lại với bà N. Chỉ có chồng bà A thỉnh thoảng hay ngồi chung quán uống cà phê với ông T (vì ở cùng trong khu phố) nhưng cũng không biết ông ấy là chồng bà A và cũng không nhắc gì đến việc và N chơi hụi hay vay nợ. Ngày bà N mất thì có đến viếng nhưng cũng không nhắc gì đến việc bà N chơi hụi và vay nợ và Á.

Vào khoảng ngày 13/9/2023 thì bà Á dẫn chồng con đến nhà bà T1, đem một số giấy tờ photo để đòi nợ, buộc gia đình bà N phải trả. Tuy nhiên gia đình không hề biết gì về việc bà N có chơi hụi hay vay nợ nên gia đình bà N từ chối liên quan và mời gia đình bà A ra về.

Bà N chết không để lại bất từ tài sản gì cho gia đình, trước khi chết bà N cũng không có tài sản gì, chỗ ở là cũng ở nhà nhà con gái. Gia đình không ai có ý định thừa kế di sản và từ chối kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ của bà N.

Cả ông T, bà T1 và ông T2 đều không hề biết việc bà N có chơi hụi hay vay nợ của ai, càng không biết việc bà N có vay nợ của bà A. Vì vậy ông T, bà T1 và ông T2 đều bác bỏ mọi yêu cầu đòi nợ từ phía bà Lê Thị Xuân A.

Việc bà N đã chết, các giấy tờ giao dịch giữa bà N với bà A thì ông T, bà T1 và ông T2 đều không biết là có hay không, những giấy tờ bà A nộp cho Tòa án làm cơ sở khởi kiện thì ông T, bà T1 và ông T2 không chấp nhận giá trị pháp lý của nó vì không biết có thật hay không vì bà N đã chết không có người đối chứng. Mà giả sử bà N có viết giấy cam kết trả nợ cho bà A thì đó là việc riêng, giao dịch riêng, cam kết riêng của bà N – không liên quan gì đến ông T, bà T1 và ông T2; ông T, bà T1 và ông T2 không biết về những giấy tờ này và cũng không chịu trách nhiệm về nội dung của những giấy tờ đó.

Ông T, bà T1 và ông T2 xin xác định không biết gì về việc chơi hụi, hốt hụi và vay nợ của bà N với bà A; không biết việc bà N vay nợ bà A có thật hay không; bác bỏ tất cả các yêu cầu trả nợ của bà A đối với ông T, bà T1 và ông T2; và từ chối mọi quyền lợi hay trách nhiệm liên quan đến bà N.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị Xuân A: Luật sư Nguyễn Lan O thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H trình bày:

Bà thống nhất với phần trình bày của đại diện uỷ quyền bà Lê Thị Xuân A, đề nghị Toà án nhân dân Quận 12 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Xuân A, buộc chồng bà N là Phạm Văn T và con gái bà N là Phạm Thị Ngân T1, con trai bà N là Phạm Văn T2 phải có trách nhiệm hoàn trả lại tổng số tiền bà N còn nợ: 374.690.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm chín mươi nghìn đồng) cho bà Lê Thị Xuân A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về thời hạn giải quyết vụ án thì chưa đảm bảo, cần xem xét rút kinh nghiệm. Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền nhận hụi và tiền nhờ mượn nợ của bà Nguyễn Thị Thúy N (bà N đã chết), là nợ của người chết để lại nên đây là “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”. Ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị Ngân T1, ông Phạm Văn T2 cùng cư ngụ tại địa chỉ cư trú tại số E Tổ B, Khu phố B, phường T, Quận A, Tp.HCM nên theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thủ tục tố tụng :

Nguyên đơn, bị đơn có đại diện uỷ quyền đều có mặt tham gia tại phiên toà. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ kiện theo quy định pháp luật.

Bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1955 ( đã mất năm 2023) trước thời điểm nguyên đơn nộp đơn khởi kiện nên không xác đinh tư cách tố tụng của bà N là bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Xuân A:

Bà Anh khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 12 xem xét buộc chồng bà N là Phạm Văn T và con gái bà N là Phạm Thị Ngân T1, con trai bà N là Phạm Văn T2 phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền bà Nguyễn Thị Thúy N ( đã chết) còn nợ: 374.690.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm chín mươi nghìn đồng) cho bà A.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, bà Lê Thị Xuân A có yêu cầu Toà án nhân dân Quận 12 tiến hành thu thập chứng cứ tại Đơn yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ ngày 25/7/2024, ngày 28/8/2024.

Toà án nhân dân Quận 12 đã ban hành Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 206/2024/TB-BSCC ngày 18 tháng 7 năm 2024; Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 280/2024/TB-BSCC ngày 30/8/2024 yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị Ngân T1, ông Phạm Văn T2 ( Đại diện ủy quyền ông Ngô Đình H) bổ sung, cung cấp chứng cứ chứng minh ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị Ngân T1, ông Phạm Văn T2 không được thừa kế tài sản mà bà Nguyễn Thị Thúy N để lại.

Theo như các tài liệu, chứng cứ mà bị đơn cung cấp cho Toà án nhân dân Quận 12 thì:

  • - Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 7896 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 08/9/2003 đối với nhà đất tại địa chỉ số E Tổ B, Khu phố B, phường T, Quận A, Tp.HCM, đứng tên ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy N đã được tặng cho bà Phạm Thị Ngân T1 theo xác nhận của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất vào ngày 25/11/2013.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH 02121 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 10/12/2014 đối với nhà đất tại địa chỉ số E Ấp F, xã X, huyện H, Tp. đứng tên ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị C đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thông T4 và ông Phạm Anh T5 theo xác nhận của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H vào ngày 02/02/2015.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH 00197 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 11/5/2010 đối với nhà đất tại địa chỉ E Khu phố B, phường T, Quận A, Tp . đứng tên bà Phạm Thị Ngân T1.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 04568 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 18/01/2016 đối với thửa đất số 82, Tờ bản đồ số 21, toạ lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên ông Nguyễn Hữu C1 và bà Nguyễn Thị T6, đã chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Ngân T1 năm 2020.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CH 00389 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 23/7/2010 đối với nhà đất tại địa chỉ 8 đường T, Khu phố B, phường T, Quận A, Tp . đứng tên ông Nguyễn H1 và bà Đặng Thị L, chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Ngân T1 theo xác nhận của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Quận A vào ngày 27/5/2019.

Căn cứ vào các giấy chứng nhận trên thì các tài sản này đều là tài sản cá nhân riêng của bà T1, ông T5 được hình thành trước lúc bà Nguyễn Thị Thúy N chết, hoàn toàn không phải là di sản của bà N. Do đó, khi khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình thì nguyên đơn bà Lê Thị Xuân A cần phải có các giấy tờ chứng minh về việc vay tiền tài liệu, chứng cứ chứng minh là người vay tiền chết có để lại di sản thừa kế để thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc chứng cứ chứng minh về việc thoả thuận thực hiện nghĩa vụ của bà N và chồng con của bà N.

Khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự 2015 về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại có quy định:

“Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”

Ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị Ngân T1, ông Phạm Văn T2 không được hưởng di sản thừa kế của bà N để lại nên các ông bà không có trách nhiệm phải thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bà N.

Khoản 1 Điều 369 Bộ luật dân sự 2015 về quyền từ chối của bên có nghĩa vụ có quy định:

“Trường hợp bên có nghĩa vụ không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu và người thế quyền không chứng minh về tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu thì bên có nghĩa vụ có quyền từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền”

Khi bà N còn sống các ông bà cũng không được bà N chuyển giao nghĩa vụ trả nợ của bà N cho bà A. Bà A có các giấy cam kết về việc bà N cam kết nếu bà không trả được nợ thì ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị Ngân T1, ông Phạm Văn T2 có trách nhiệm trả nợ cho bà A thay cho bà N, nhưng bà A không có văn bản chứng minh việc cam kết nêu trên là được sự đồng ý của ông T, bà T1, ông T2. Do đó, ông T, bà T1, ông T2 có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ thay cho bà N.

Chính vì các lẽ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Lê Thị Xuân A phải chịu án phí do yêu cầu của bà không được chấp nhận là 18.734.500đ ( Mười tám triệu, bảy trăm ba mươi bốn nghìn năm trăm đồng);

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào các Điều 369, 615 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Xuân A về việc buộc ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị Ngân T1, ông Phạm Văn T2 phải có trách nhiệm hoàn trả lại tổng số tiền bà Nguyễn Thị Thúy N còn nợ bà Lê Thị Xuân A là 374.690.000 đồng ( Ba trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm chín mươi nghìn đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Xuân A phải chịu án phí là 18.734.500đ, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.367.250₫ theo biên lai thu số 0030724 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Xuân A còn phải đóng thêm số tiền án phí còn lại là 9.367.250₫ ( Chín triệu, ba trăm sáu mươi bảy nghìn, hai trăm năm mươi đồng).

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát trực tiếp cấp trên là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận12 ;
  • - Thi hành án dân sự Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 809/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

  • Số bản án: 809/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Xuân A - Phạm Văn T; Phạm Thị Ngân T1 Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger