Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 809/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09-9-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Thanh Thùy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyên;

Ông Võ Hoàng Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 410/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 583/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 507/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

  3. Bị đơn: Ông Trần Huy H (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: tổ B, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 15/3/2024, Đơn khởi kiện ngày 13/5/2024 và lời khai của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị D thì:

Bà và ông Trần Huy H tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102/2010 ngày 24/11/2010. Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách, thường xuyên tranh cãi. Bà đã cố gắng trao đổi với ông Trần Huy H để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên B và ông Trần Huy H đã ly thân từ tháng 02/2022 đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Huy H.

Về việc nuôi con: Bà và ông Trần Huy H có 02 (hai) con chung là Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày: 09/4/2011, giới tính: Nữ và Trần Huy Q, sinh ngày: 24/7/2014, giới tính: Nam. Hiện các con chung đang sống với Bà, do trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cùng với sự hỗ trợ của người thân của Bà. Các con chung đều đang phát triển tốt về cả thể chất lẫn tinh thần. Bà hiện đang là Tổ trưởng Tổ sản xuất của Công ty Cổ phần T với thu nhập ổn định mỗi tháng khoảng 21.038.000đ, ngoài ra Bà còn có các khoảng thu nhập tăng thêm từ tăng ca, phụ cấp và có nơi ở ổn định. Do đó, Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 (hai) con chung Trần Nguyễn Bảo N và Trần Huy Q, không yêu cầu ông Trần Huy H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung và các vấn đề khác: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Bà.

Bị đơn – ông Trần Huy H đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.

Con chung Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày: 09/4/2011 và con chung Trần Huy Q, sinh ngày: 24/7/2014 đều có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ nếu cha, mẹ ly hôn.

Theo kết quả xác minh ngày 29/5/2024 của Công an xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công văn số 1806/TAHBC ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của bị đơn thì ông Trần Huy H thực tế cư trú tại địa chỉ: tổ B, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Công văn số 1875/UBND ngày 18/6/2024 của Ủy ban nhân dân phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng hôn nhân thì:

“1. Đến thời điểm hiện nay, Ủy ban nhân dân phường T chưa nhận được đơn yêu cầu hòa giải mâu thuẫn tranh chấp đối với các trường hợp đương sự Nguyễn Thị D và Trần Huy H.

2. Về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án: về nội dung này, Ủy ban nhân dân phường không rõ”.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát và đương sự đúng quy định tại Điều 195; Điều 196 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Trần Huy H, yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con nên tranh chấp giữa bà D và ông H là “tranh chấp ly hôn”. Theo kết quả xác minh ngày 29/5/2024 của Công an xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông H thực tế cư trú tại địa chỉ: tổ B, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Bà Nguyễn Thị D vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Trần Huy H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng nên căn cứ Khoản 2, Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà D và ông H.

[2] Về hôn nhân: Căn cứ Bản sao Trích lục kết hôn số 85/2024/TLKH-BS do Ủy ban nhân dân phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/02/2024 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị D và ông Trần Huy H là hợp pháp. Theo trình bày của bà D thì mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, không thể giải quyết dẫn đến vợ, chồng sống ly thân từ tháng 2/2022 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ ông H để ông H trình bày ý kiến, nguyện vọng đối với yêu cầu khởi kiện của bà D, giải quyết mâu thuẫn và hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông H vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến hay phản đối đối với các tình tiết do bà D đưa ra, không có thiện chí đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định bà D và ông H đã sống ly thân; không thương yêu, quý trọng nhau; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì yêu cầu ly hôn của bà N có cở sở để chấp nhận.

[3] Về việc nuôi con:

[3.1] Theo Bản sao Giấy khai sinh số 367/GKS-BS do Ủy ban nhân dân phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2021, Giấy khai sinh số 368/GKS-BS do Ủy ban nhân dân phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2021 và trình bày của bà D thì bà D và ông H 02 (hai) con chung là Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày: 09/4/2011, giới tính: Nữ và Trần Huy Q, sinh ngày: 24/7/2014, giới tính: Nam. Căn cứ Xác nhận thông tin về cư trú ngày 08/3/2024 của Trưởng Công an xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, Giấy khen ngày 24/5/2024 của Trường Trung học cơ sở T1, Giấy khen ngày 28/7/2023 của Chi hội Khuyến học thôn M, Giấy khen ngày 21/5/2024 của Hiệu trưởng Trường Tiểu học H1 và trình bày của bà D thì các con chung đang ở cùng bà D, do bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và đang phát triển tốt. Căn cứ Sao kê tài khoản ngày 23/5/2024, Sao kê tài khoản ngày 08/7/2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á và trình bày của bà D thì bà D có công việc, thu nhập ổn định, đủ đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của con chung và có chỗ ở ổn định. Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 (hai) con chung Trần Nguyễn Bảo N và Trần Huy Q, ông H không có ý kiến phản đối. Các con chung Trần Nguyễn Bảo N và Trần Huy Q đều có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Như vậy, có cơ sở xác định việc giao 02 (hai) con chung Trần Nguyễn Bảo N và Trần Huy Q cho bà D trực tiếp nuôi sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, hạn chế việc xáo trộn môi trường sống, phù hợp với nguyện vọng của con chung và quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[3.2] Bà D không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con đối với 02 (hai) con chung Trần Nguyễn Bảo N và Trần Huy Q là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên được ghi nhận.

[3.3] Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà D, giao bà D trực tiếp nuôi 02 (hai) con chung Trần Nguyễn Bảo N và Trần Huy Q, ghi nhận bà D tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Bà D trình bày Bà và ông H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung và các nghĩa vụ chung về tài sản khác: Bà D trình bày Bà và ông H không có nợ chung và các nghĩa vụ chung về tài sản khác, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Đ a, Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì do bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn nên bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 19; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 4; Điều 6; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D được ly hôn ông Trần Huy H.
  2. Về việc nuôi con:
  3. Giao bà Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi 02 (hai) con chung là Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày: 09/4/2011, giới tính: Nữ và Trần Huy Q, sinh ngày: 24/7/2014, giới tính: Nam.

    Ghi nhận bà Nguyễn Thị D tự nguyện không yêu cầu ông Trần Huy H cấp dưỡng nuôi con.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Khi có lý do chính đáng, các bên có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0033782 ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày đương sự được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Ủy ban nhân dân phường G, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT (20).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nguyễn Thanh Thùy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 809/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 809/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger