Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 809/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06 - 9 - 2024.

V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Vân
  2. Ông Nguyễn Đình Thọ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trâm là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 510/2024/TLST-HN ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 213/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Tổ D, khu V, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn H1, sinh năm: 1990; Địa chỉ: D N, tổ A, khu V, phường N, TP ., tỉnh Bình Định (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 5 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Tấn H1 trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu khoảng 01

1

năm, đến ngày 29/11/2016 anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn gay gắt nhất là từ năm 2020 cho đến nay do anh H1 không lo làm ăn, nghiện hút, nhưng vì con nên chị cố gắng níu kéo tình cảm vợ chồng nhưng không được. Đến tháng 5/2024 vợ chồng sống ly thân.

Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân nên chị yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Tấn H1 để hai bên ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 08/01/2017. Hiện nay con chung đang sống với chị, sức khoẻ bình thường, nên khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Chị và anh H1 tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn, anh Nguyễn Tấn H1:

Anh Nguyễn Tấn H1 cố tình vắng mặt, không đến Tòa để làm việc, nên Tòa không lấy được lời khai.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật TTDS. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị: Áp dụng Điều 51, 56, Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ánh H được ly hôn anh Nguyễn Tấn H1; Giao con chung Nguyễn Tuấn Anh, sinh ngày 08/01/2017 cho chị H nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không xem xét; Tài sản chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét.

- Án phí HNGĐ: Chị Nguyễn Thị Ánh H phải chịu 300.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị Ánh H là nguyên đơn trong vụ án, có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên Tòa hôm nay. Bị đơn là anh Nguyễn Tấn H1 đã được Tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không

2

có lý do. Do đó căn cứ theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Ánh H và anh Nguyễn Tấn H1 trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu khoảng 01 năm, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo chị H khai báo thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, nguyên nhân là do anh H1 không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình, sử dụng chất kích thích, bản thân chị và gia đình cha mẹ hai bên đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H1 không thay đổi.

Nay chị không còn tình cảm với anh H1, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2024 cho đến nay, tình cảm, trách nhiệm với nhau không còn nên chị yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Tấn H1 để ổn định cuộc sống.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Tấn H1 không hợp tác, không đến Tòa làm việc mặc dù đã nhận đầy đủ thông báo thụ lý vụ án cũng như các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ. Điều này chứng tỏ anh H1 không có thiện chí muốn hòa hợp.

Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị sống ly thân đã lâu. Do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ánh H được ly hôn anh Nguyễn Tấn H1 là phù hợp với Điều 51, 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị H và anh H1 có một con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 08/01/2017. Ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

Tòa xét: Việc nuôi con sau khi ly hôn phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu, lâu nay cháu Nguyễn Tuấn A sống với chị H đã ổn định, để tránh sự đảo lộn trong cuộc sống của cháu và phù hợp với nguyện vọng của cháu nên HĐXX xét thấy nên tiếp tục giao cháu Nguyễn Tuấn A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Tòa không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu, Tòa không giải quyết.

[5] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị Ánh H phải chịu 300.000đồng.

[6] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

3

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ánh H được ly hôn anh Nguyễn Tấn H1.
  2. Về con chung, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:
    1. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ánh H và anh Nguyễn Tấn H1 có một con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày: 08/01/2017.
    2. Về nuôi con: Giao cháu Nguyễn Tuấn A cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
    3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu, Tòa không giải quyết.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ánh H không yêu cầu, Tòa không giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001116 ngày 18/6/2024 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Q.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

4

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Tp.Quy Nhơn;

- Các đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Huỳnh Thị Ngọc Lan

5

8

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 809/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 809/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ ÁNH H - NGUYỄN TẤN H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger