Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án: số 809/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/9/2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thảo

- Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Phạm Bá Chương;

2- Ông Phạm Nam Thắng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Vũ Lê Quang Đạo – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1331/2025/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2314/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 2905/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 và giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kim N - sinh năm 1988

CCCD số [...] cấp ngày 20/4/2022

Địa chỉ: 5 Đường N, khu phố A, phường T (nay là khu phố A, phường T ), Thành phố Hồ Chí Minh.(xin vắng mặt)

2/ Bị đơn: ông Nguyễn Minh T – sinh năm 1988

CCCD số [...]

Địa chỉ: 5 Đường N, khu phố A, phường T (nay là khu phố A, phường T), Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Trong đơn khởi kiện đề ngày 13/52025, bản tự khai và tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bà Ngô Thị Kim N trình bày: giữa bà và bị đơn ông Nguyễn Minh T sống chung với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T (nay là Phường T), Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi kết hôn, ông bà sống chung với nhau 2 năm thì hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường tranh cãi với nhau mà không tìm được tiếng nói chung, hai bên nhiều lần hòa giải nhưng vẫn không có kết quả dẫn đến đôi bên sống ly thân nhau cho đến nay. Nay bà không còn tình cảm gì với ông T nên bà yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Ngô Minh Hiếu S ngày 02/6/2014 và Nguyễn Ngô Ánh X sinh ngày 06/8/2019, khi ly hôn bà V yêu cầu nuôi dưỡng các con chung và yêu cầu ông Nguyễn Minh Trung cấp D nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng (mỗi con chung 2.500.000 đồng/tháng) cho đến khi 02 con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

Tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Ông Nguyễn Minh T không có lời khai và cũng không nộp tài liệu chứng cứ gì.

Tại phiên tòa:

Bà Ngô Thị Kim N có đơn xin vắng mặt; ông Nguyễn Minh T vắng mặt suốt quá trình tố tụng vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 -Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến xác định việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: bà Ngô Thị Kim N và ông Nguyễn Minh T sống chung với nhau năm 2013, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường T ( nay là phường T ), Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 69/2013, ngày 09/9/2013. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

Căn cứ phiếu xác minh ngày 13/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 -Thành phố Hồ Chí Minh, Công an phường T (nay là phường T) phúc đáp: ông Nguyễn Minh T – sinh năm 1988 có thực tế cư trú tại số E Đường N, khu phố A, phường T (nay là khu phố A, phường T), Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 51 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu của bà N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân giữa bà N và ông T sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn về mọi mặt trong đời sống gia đình, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nên bà N và ông T đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên cũng không thể hòa giải mâu thuẫn để về sống chung với nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy suốt quá trình tố tụng Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông T nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy ông T không quan tâm đến việc hòa giải để đoàn tụ gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét thấy hôn nhân giữa bà N và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.

[3] Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Ngô Minh Hiếu S ngày 02/6/2014 và Nguyễn Ngô Ánh X sinh ngày 06/8/2019 . Ông Nguyễn Minh T không có ý kiến trong quá trình tố tụng. Hội đồng xét xử xét các con chung hiện nay đang sống chung với bà Ngô Thị Kim N, bà N đảm bảo được các điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung từ khi bà N và ông T sống ly thân cho đến nay và xét theo nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử giao các con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của các con chung.

Xét yêu cầu cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng cho 02 con chung của bà N. Hội đồng xét xử nhận thấy hai trẻ còn quá nhỏ và một mình bà N nuôi con sẽ có khó khăn nhất định, do đó cần buộc ông Nguyễn Minh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho các con, để bù đắp một phần trách nhiệm của ông T khi không trực tiếp nuôi con. Mức yêu cầu cấp dưỡng của bà N là hợp lý so với thu nhập bình quân hiện nay. Vì vậy, buộc ông Nguyễn Minh T phải cấp dưỡng nuôi hai con chung 5.000.000 đồng/tháng (2.500.000 đồng/tháng cho mỗi con) cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Ngô Thị Kim N phải chịu. Án phí cấp dưỡng 300.000 đồng ông Nguyễn Minh T phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm a, b khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Kim N :

Về quan hệ hôn nhân: bà Ngô Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.

Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Ngô Minh Hiếu S ngày 02/6/2014 và Nguyễn Ngô Ánh X sinh ngày 06/8/2019. Giao hai con chung cho bà Ngô Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Buộc ông Nguyễn Minh Trung cấp D nuôi hai con chung 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng (mỗi con chung 2.500.000 đồng/tháng) cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Ngô Thị Kim N, nếu ông Nguyễn Minh T chưa thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Ngô Thị Kim N phải chịu. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, bà Ngô Thị Kim N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000152 ngày 26/5/2025 của Phòng thi hành án khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Ngô Thị Kim N đã nộp đủ.

Ông Nguyễn Minh T phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)

3/ Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều7a (áp dụng Điều 7b nếu có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); Điều 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Đương sự của vụ án
  • - VKSND KV2;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Phòng Thi hành án DS KV2
  • - Cơ quan thực hiện việc ĐKKH
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Thị Thu Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 809/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 809/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Kim N - Nguyễn Minh T - Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger