Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 809/2024/DS-PT

Ngày: 23 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và

yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Nhựt Bình
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn
Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 và 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 392/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2370/2024/QĐPT-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N (vắng mặt);

Địa chỉ: Số B, ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Kha M, sinh năm 1976 (có mặt);

Địa chỉ: Số H, ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn:

1/ Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1988 (có mặt)

2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1989 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Số A, ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoàng P1, Phó Chủ tịch UBND huyện K (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, Đường C, ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

2/ Ông Nguyễn Tấn B (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng

3/ Ông Nguyễn Tấn M1 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng

4/ Bà Nguyễn Thị D (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

5/ Ông Nguyễn Thanh Đ1 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng

6/ Bà Nguyễn Thị Mỹ K (vắng mặt);

Địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, Khóm B, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Tấn B, Nguyễn Tấn M1, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Mỹ K: Ông Nguyễn Thanh Đ (có mặt).

- Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N và bị đơn là ông Nguyễn Thanh Đ, bà Nguyễn Thị Ngọc P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà Nguyễn Thị N có quyền sử dụng đất diện tích 5.336 m², thửa đất số 331, tờ bản đồ 03, tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 566362 ngày 04/01/2013 của Ủy ban nhân dân (UBND) huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp cho bà Nguyễn Thị N.

Giáp ranh với đất của bà N là đất của bà Nguyễn Thị Y (mẹ ruột của anh Nguyễn Thanh Đ, mẹ chồng của chị Nguyễn Thị Ngọc P). Bà Nguyễn Thị Y đã chết và hiện nay anh Đ và vợ là chị P đang quản lý, sử dụng, hai phần đất giáp nhau đã cắm hai cột mốc xác định ranh ở hai đầu đất phía lộ nhựa đường Nam Sông H và phía lộ đal giáp Sông T, ranh đất là đường thẳng từ trước tới sau có chiều dài là 218m.

Trong quá trình sử dụng đất, vợ chồng anh Đ, chị P đã lấn chiếm qua phần đất của bà N theo hình vòng cung, đoạn ở giữa chỗ nền mộ của người thân bên chồng của bà N có số đo chiều ngang theo đo đạc thực tế hiện nay là 4,3m; như vậy anh Đ và chị P đã lấn chiếm đất giáp ranh của bà Nguyễn Thị N có diện tích là 218m x 4,3m : 2 = 468,7m².

Giữa các bên đã có tranh chấp về ranh đất, sau đó gia đình bà N và gia đình anh Đ đã làm giấy thỏa thuận xác định ranh đất giữa hai hộ là đường thẳng

kéo từ cột mốc giáp lộ nhựa đường Nam Sông H đến cột mốc giáp lộ đal cặp sông T. Sau khi hai bên thỏa thuận xác định ranh đất, anh Đ và chị P vẫn tiếp tục sử dụng lấn chiếm sang đất của bà N. Sự việc đã được chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không thành.

Những vấn đề cụ thể bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm: Buộc anh Nguyễn Thanh Đ và chị Nguyễn Thị Ngọc P trả lại phần đất lấn chiếm giáp ranh, có diện tích là 468,7m² tại thửa đất số 331, tờ bản đồ 03, tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

Tại Đơn phản tố và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa các bị đơn trình bày như sau:

Nguồn gốc diện tích 4.602m², tại thửa số 130, tờ bản đồ 03, tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 462550 ngày 26/10/2015 của UBND huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp cho bà Nguyễn Thị Y, mà hiện nay do vợ chồng bị đơn Đ đang sử dụng và có tranh chấp với nguyên đơn Năm, là của bà Nguyễn Thị Y mẹ ruột của bị đơn Đ nhận chuyển nhượng của bà Lâm Thị L vào năm 1982, có số đo chiều ngang giáp sông T và giáp lộ Nam Sông Hậu tương ứng là 24m, sau đó bà Y cho vợ chồng bị đơn Đ sử dụng cho đến nay. Phần đất này giáp ranh với đất của gia đình nguyên đơn N và ranh đất là đường thẳng phía ngoài khu nền mộ người thân của bà L, đã chôn trên đất trước khi bà L chuyển nhượng cho bà Y.

Năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã xét xử vụ án tranh chấp đất nền mộ giữa gia đình bị đơn Đ và gia đình bà L, Tòa án đã xác định các ngôi mộ của gia đình bà L được chôn trên phần đất mà bà L đã chuyển nhượng cho bà Y vào năm 1982 và xác định ranh đất của gia đình bị đơn Đ tại thửa 130 với đất của gia đình nguyên đơn Năm tại thửa 331 là phía ngoài của khu nền mộ.

Do phần đất giáp nhau rất dài, gia đình bị đơn Đ không biết đất bị cọng ở khu vực nền mộ, gia đình bị đơn cứ nghĩ cột mốc 02 đầu đất là đường thẳng ở phía ngoài khu nền mộ. Sau khi thỏa thuận xác định ranh đất giữa 02 gia đình, khi đo thực tế thì thấy rằng cột mốc đã cắm vào phần đất của gia đình các bị đơn phía lộ nhựa đường Nam Sông H là 4,31m, phía ngoài sông T là 4,29m nên gia đình, đơn Đạm không đồng ý với thỏa thuận nêu trên, từ đó các bên phát sinh tranh chấp.

Gia đình bị đơn Đ không lấn đất của gia đình nguyên đơn Năm nên không trả đất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Năm. Do bà Y đã chết. Vì vậy, bị đơn Đạm đại diện gia đình làm đơn phản tố, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giải quyết, xác định ranh đất là đường thẳng phía ngoài nền mộ và dời cột mốc phía lộ N vào phía đất của bà N là 4,31m và dời cột mốc phía ngoài sông T vào phía đất của bà N là 4,29m cho đúng với phần đất trước đây bà Y đã mua của bà L vào năm 1982.

Những vấn đề cụ thể anh Nguyễn Thanh Đ, chị Nguyễn Thị Ngọc P phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:

  • - Buộc bà Nguyễn Thị N phải trả lại phần đất đã lấn chiếm qua ranh đất của gia đình anh Đ, chị P giáp ranh với nhau (thửa 130; 331), tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; có diện tích khoản 1.012m², có vị trí:
    • Phần bụng (theo sơ đồ) gia đình anh Đ, chị P đang sử dụng đến mép ngoài khu nền mộ theo đường ranh cũ là đường thẳng ngoài khu mộ khi sang nhượng của bà Lâm Thị L có ranh giới rõ ràng và anh Đ, chị P sử dụng cho đên nay có diện tích 632m².
    • Phần đất 2 đầu trụ cấm qua đất anh Đ, chị P có vị trí: Từ mép ngoài khu nền mộ ra phía lộ Nam Sông H và từ mép ngoài nền khu nền mộ ra phía lộ đal Trà Ếch có diện tích 380m².
  • - Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện K cấp cho bà Nguyễn Thị N tại thửa số 331, tờ bản đồ số 03, diện tích: 5.336m², hình thức sử dụng CNT+CLN, tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng do cấp lấn sang ranh đất gia đình anh Đ, chị P đang sử dụng, tọa lạc thửa 130, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

Theo Văn bản số 592/UBND-VP ngày 11/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện K có ý kiến như sau:

Thửa đất số: 331, tờ bản đồ số: 03, diện tích: 4.400m², loại đất: TELNK đã cấp Giấy chứng nhận cho Hộ bà Nguyễn Thị N.

Thửa đất số: 273, tờ bản đồ số: 03, diện tích: 2.000m², loại đất: T+LNK, đã cấp Giấy chứng nhận cho Hộ bà Nguyễn Thị Y.

Thửa đất số: 340, tờ bản đồ số: 03, diện tích: 1.500m², loại đất: LNK, đã cấp Giấy chứng nhận cho Hộ ông Trần Văn T.

Thửa đất số: 275, tờ bản đồ số: 03, diện tích: 7.240m², loại đất: T+LNK, đã cấp Giấy chứng nhận cho Hộ bà Triệu Thị S.

Thửa đất số: 272, tờ bản đồ số: 03, diện tích: 2.000m², loại đất: T+LNK, đã cấp Giấy chứng nhận cho Hộ bà Trịnh Thị H1.

Thửa đất số: 274, tờ bản đồ số: 03, diện tích: 2.600m², loại đất: LNK, đã cấp Giấy chứng nhận cho Hộ ông Lê Văn H2.

Quá trình biến động đất đai từ khi được cấp Giấy chứng nhận:

Thửa đất số: 273, tờ bản đồ số: 03, diện tích: 2.000m², loại đất: T+LNK; Đã cấp giấy chứng nhận số D 711210 cho Hộ bà Nguyễn Thị Y, cấp ngày 16/5/1995. Đến năm 2008, đăng ký cấp đổi lại thửa đất được Ủy ban nhân dân xã N đo đạc lại diện tích: 4,565 m²; Tổng diện tích sau khi được đo đạc tăng: 2.565m²; diện tích tăng do sai ranh qua thửa đất số 272 và thửa đất số 331.

Thửa đất số 272, đã cấp Giấy chứng nhận cho bà Trịnh Thị H3. Thửa đất số 331, đã cấp Giấy chứng nhận cho bà Nguyễn Thị N.

Sau khi đo đạc lại thửa đất số 273, tờ bản đồ số 03, diện tích: 4.565m², loại đất: T+LNK. (Đã chỉnh lý thu hồi một phần Giấy chứng nhận số D711210) cấp đổi lại cho bà Nguyễn Thị Y, Giấy chứng nhận số A0730319, cấp ngày

30/7/2009

Thực hiện theo dự án đo đạc tổng thể, bà Nguyễn Thị Y đăng ký cấp đổi lại thửa đất số 273, tờ bản đồ số 03; đo đạc chính quy cấp đổi lại thành thửa 130, tờ bản đồ số 09, diện tích 4.602m², loại đất (ONT 300m², CLN 3.240m²); (Đã thu hồi GCN số: AO 730319) để cấp đổi lại cho bà Nguyễn Thị Y, Giấy chứng nhận số BT 462550, cấp ngày 26/10/2015.

Thửa đất số 331, tờ bản đồ số 03, diện tích 4.400m², loại đất: T+LNK; Đã cấp Giấy chứng nhận số D 711288 cho Hộ bà Nguyễn Thị N, cấp ngày 16/5/1995. Đến năm 2008, đăng ký cấp đổi lại thửa đất được Ủy ban nhân dân xã N đo đạc lại diện tích: 5.366m²; Tổng diện tích sau khi đo đạc tăng: 936m².

Trong đó thửa đất số 331, giảm một phần diện tích do thửa đất số 273, đo đạc lại sai ranh qua thửa đất số 331. Phần diện tích tăng của thửa đất số 331, đo đạc lại do sai ranh qua thửa đất số 275, thửa đất số 340 và thửa 274.

Thửa đất số 275, đã cấp Giấy chứng nhận cho hộ bà Triệu Thị S. Thửa đất số 340, đã cấp Giấy chứng nhận cho Lê Văn H4. Thửa đất số 274, đã cấp Giấy chứng nhận cho Lê Văn H2.

Sau khi đo đạc lại thửa đất số 331, tờ bản đồ số 03, diện tích 5.336m² loại đất (ONT: 300m², CLN: 5.036m²), (Đã thu hồi GCN số: D 711288) để cấp đổi lại cho bà Nguyễn Thị N số D 711288 số BK 566362, ký cấp đổi lại cho bà Nguyễn Thị N số BK 56636 04/01/2013.

Thửa đất số 340, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.500m², loại đất LNK, đã cấp Giấy chứng nhận số D711228 cho hộ ông Trần Văn T. Đến năm 1996 ông Trần Văn T, chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho ông Lê Văn H4 hết thửa đất số 340, tờ bản đồ số 03, diện tích 1500m², loại đất: LNK), (Đã thu hồi GCN số: D 711228), đề cấp GCN số: H 959744, cấp cho ông Lê Văn H4, đến nay chưa đăng ký biến động.

Thửa đất số 275, tờ bản đồ số 03, diện tích 7.240m², loại đất T+ LNK, đã cấp giấy chứng nhận số D 711237 cho hộ bà Triệu Thị S, đến nay chưa đăng ký biên động.

Thửa đất số 272, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.000m², loại đất: T+ LNK; Đã cấp Giấy chứng nhận số E 893280 cho hộ bà Trịnh Thị H1. Sau khi được cấp Giấy, bà Trịnh Thị H1 đăng ký đo đạc cấp đổi lại thửa đất số 272. Thửa đất được Ủy ban nhân dân xã N đo đạc lại diện tích 4.181m². Tổng diện tích thửa đất tăng 2.181m². Sau khi đo đạc lại thửa đất số: 272, tờ bản đồ sổ: 03, diện tích: 4.181 m², loại đất: T+LNk (Đã thu hồi Giấy chứng nhận số E 893280), để cấp đổi lại cho bà Trịnh Thị H1, GCN số: AM 102439. Sau đó, bà Trịnh Thị H1 chuyển nhượng cho bà Lâm Mỹ T1, một phần thửa số 272, diện tích 350m², tách thửa đất số 429, tờ bản đồ số 03, diện tích 350m', Giấy chứng nhận số AN 516291, cấp cho bà Lâm Mỹ T1.

Chuyển nhượng cho ông Lâm Trọng N1, một phần thửa số 272, diện tích 350m², tách thửa đất số 430, tờ bản đồ số: 03, diện tích: 350m², Giấy chứng nhận số AN 516292, cấp cho ông Lâm Trọng N1.

Chuyển nhượng cho bà Trần Thủy L1, một phần thửa sổ 272, diện tích 349m², tách thửa đất số 431, tờ bản đồ số 03, diện tích 349m², Giấy chứng nhận số AN 329005, cấp cho bà Trần Thủy L1.

Tặng cho bà Khưu Thị Tuyết M2 hết phần còn lại thửa đất số 272, tờ bản đồ số 03, Giấy chứng nhận số AM 102439, cấp cho Bà Trần Thủy L1.

Thửa đất số 274, tờ bản đồ số 03, diện tích: 2600m², loại đất: T+LNK, đã cấp Giấy chứng nhận số D 711289 cho hộ ổng Lê Văn H2, đến nay chưa đăng ký biến động.

Việc ông Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thị Ngọc P yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì cơ quan chuyên môn sẽ thực điều chỉnh theo bản án đã tuyên.

Quá trình cấp Giấy chứng nhận cho các thửa đất nêu trên là đúng trình tự, thủ tục tại thời điểm cấp Giấy.

Tuy nhiên quá trình đo đạc để cấp đổi lại Giấy chứng nhận cho các thửa đất nêu trên, Ủy ban nhân dân xã N chỉ thực hiện đo đạc theo hiện trạng do chủ sử dụng đất xác định ranh, không có đối chiếu hồ sơ pháp lý (các giấy chứng nhận đã cấp trước đây).

Sau khi kiểm tra hồ sơ các giấy chứng nhận đã cấp đổi, đối chiếu bản đồ địa chính tại thời điểm cấp giấy chứng nhận cũ cho thấy:

Thửa đất số 331, tờ bản đồ số 03, diện tích tăng là do sai ranh qua hết thửa đất số 340; sai ranh qua một phần thửa đất số 274 và một phần thửa đất số 275; đã được cấp Giấy chứng nhận, nhưng đến nay vẫn chưa thu hồi chỉnh lý. (Căn cứ theo hồ sơ pháp lý và các giấy chứng nhận đã cấp, phần diện tích tăng của thửa đất số 331 là do cấp trùng lên hết thửa đất số 340, trùng lên một phần thửa đất số 274 và một phần thửa đất số 275; đã được cấp Giấy chứng nhận, đến nay vẫn chưa thu hồi chỉnh lý).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Tấn B, ông Nguyễn Tấn M1, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Thanh Đ1 và bà Nguyễn Thị Mỹ K; người đại diện theo ủy quyền của ông B, anh M1, chị D, anh Đ1, chị K là anh Nguyễn Thanh Đ và chị Nguyễn Thị Ngọc P trình bày: Thống nhất theo lời trình bày và đơn yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thanh Đ và bà Nguyễn Thị Ngọc P. Không có ý kiến bổ sung gì.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án số 106/2024/QĐ-SCBSBA ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã quyết định:

1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N về việc buộc các bị đơn Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thị Ngọc P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn B, Nguyễn Tấn M1, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thanh Đ1, Nguyễn Thị Mỹ K giao trả phần diện tích đất 283,2m² thuộc thửa 331, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có vị trí như sau:

  • - Hướng đông: Giáp thửa 331, có số đo 148,48m.
  • - Hướng tây: Giáp thửa 130, có số đo 115m + 33,14m.
  • - Hướng nam: Giáp thửa 130 (nền mộ), có số đo 1,24m.
  • - Hướng bắc: Giáp lộ bê tông, có số đo 4,14m.

1.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N về việc buộc các bị đơn Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thị Ngọc P giao trả phần diện tích đất 191,7m² thuộc thửa 331 nêu trên và phần diện tích đất 45,2m² + 150,1m² + 8,2m² thuộc thửa 130, tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

* Phần thửa 331 diện tích 191,7m², có vị trí như sau:

  • - Hướng đông: Giáp thửa 331, có số đo 51,74m.
  • - Hướng tây: Giáp thửa 130, có số đo 70,39m;
  • - Hướng nam: giáp lộ N, có số đo 4,09m.
  • - Hướng bắc: Giáp khu nền mộ, có số đo 1,41m.

* Phần thửa 130 diện tích 45,2m², có vị trí như sau:

  • - Hướng đông: Giáp thửa 331, có số đo 70,39m;
  • - Hướng tây: Giáp thửa 130, có số đo 9,96m + 3,61m + 3,54m + 5,36m + 5,75m + 5,59m + 7,52m + 8,65m + 5,10m + 9,86m +5,07m.
  • - Hướng nam: Giáp lộ N, có số đo 0,21m.
  • - Hướng bắc: Giáp nền mộ, có số đó 1,08m.

* Phần thửa 130 diện tích 150,1m², có vị trí như sau:

  • - Hướng đông: Giáp thửa 311, có số đo 115m;
  • - Hướng tây: Giáp thửa 130, có số đo 5,95m + 6,31m + 7,36m + 7,75m + 8,02m + 6,43m + 6,66m + 7,51m + 7,12m + 6,87m + 9,51m + 7,63m + 8,50m + 7,05m + 4,66m + 4,34m + 3,29m.
  • - Hướng nam: Giáp nền mộ, có số đo 1,45m.
  • - Hướng bắc: Giáp một điểm 20.

* Phần thửa 130 diện tích 8,2m², có vị trí như sau:

  • - Hướng đông: Giáp thửa 331, có số đo 33,14m;
  • - Hướng tây: Giáp thửa 130, có số đo 4,50m + 3,89m + 5,65m + 6m + 5,06m + 5,62m + 2,41m.
  • - Hướng nam: Giáp một điểm 20.
  • - Hướng bắc: Giáp lộ bê tông, có số đo 0,16m.

1.3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N về việc buộc các bị đơn Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thị Ngọc P phải giao trả phần đất tranh chấp (nền mộ) 33,1m², có vị trí như sau:

  • - Hướng đông: Giáp thửa 331, có số đo 12,15m.
  • - Hướng tây: Giáp thửa 130, có số đo 12,78m
  • - Hướng nam: Giáp thửa 130 và thửa 331, có số đo 1,08m + 1,41m.
  • - Hướng bắc: Giáp thửa 130 và thửa 331, có số đo 1,45m + 1,45m.

(có sơ đồ kèm theo)

1.4. Giao các cây trồng trên phần đất nêu trên cho nguyên đơn sở hữu gồm 20 cây dừa loại C và 01 cây dừa loại A và nguyên đơn có trách nhiệm trả giá trị cây trồng cho các bị đơn với số tiền 2.500.000 đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, các bị đơn Đạm, P có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng nguyên đơn Năm còn phải chịu mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương đương số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của các bị đơn Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thị Ngọc P về việc:

- Buộc bà Nguyễn Thị N phải trả lại phần đất đã lấn chiếm qua ranh đất của gia đình anh Đ, chị P có diện tích 45,2m² + 150,1m² + 8,2m² thuộc thửa 130, tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Cụ thể như sau:

* Phần thửa 130 diện tích 45,2m², có vị trí như sau:

  • - Hướng đông: Giáp thửa 331, có số đo 70,39m;
  • - Hướng tây: Giáp thửa 130, có số đo 9,96m + 3,61m + 3,54m + 5,36m + 5,75m + 5,59m + 7,52m + 8,65m + 5,10m + 9,86m + 5,07m.
  • - Hướng nam: Giáp lộ N, có số đo 0,21m.
  • - Hướng bắc: Giáp nền mộ, có số đó 1,08m.

* Phần thửa 130 diện tích 150,1m², có vị trí như sau:

  • - Hướng đông: Giáp thửa 311, có số đo 115m;
  • - Hướng tây: Giáp thửa 130, có số đo 5,95m + 6,31m + 7,36m + 7,75m + 8,02m + 6,43m + 6,66m + 7,51m + 7,12m + 6,87m + 9,51m + 7,63m + 8,50m + 7,05m + 4,66m + 4,34m + 3,29m.
  • - Hướng nam: Giáp nền mộ, có số đo 1,45m.
  • - Hướng bắc: Giáp một điểm 20.

* Phần thửa 130 diện tích 8,2m², có vị trí như sau:

  • - Hướng đông: Giáp thửa 331, có số đo 33,14m;
  • - Hướng tây: Giáp thửa 130, có số đo 4,50m + 3,89m + 5,65m + 6m + 5,06m + 5,62m + 2,41m.
  • - Hướng nam: Giáp một điểm 20.
  • - Hướng bắc: Giáp lộ bê tông, có số đo 0,16m.

2.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của các bị đơn Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thị Ngọc P về việc buộc bà Nguyễn Thị N phải trả lại phần đất đã lấn chiếm qua ranh đất của gia đình anh Đ, chị P có diện tích 283,2m² thuộc thửa 331, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có vị trí như sau:

  • - Hướng đông: Giáp thửa 331, có số đo 148,48m.
  • - Hướng tây: Giáp thửa 130, có số đo 115m + 33,14m.
  • - Hướng nam: Giáp thửa 130 (nền mộ), có số đo 1,24m.
  • - Hướng bắc: Giáp lộ bê tông, có số đo 4,14m.

3. Không chấp nhận yêu cầu của các bị đơn Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thị Ngọc P về việc yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện K cấp cho bà Nguyễn Thị N tại thửa số 331, tờ bản đồ số 03, diện tích: 5.336m², hình thức sử dụng CNT+CLN, tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

4. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5.Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị N được miễn.

Ông Nguyễn Thanh Đ, bà Nguyễn Thị Ngọc P, mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0002838, 0002839 cùng ngày 14/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh (1);
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Các đương sự (9);
  • - Lưu: hồ sơ vụ án (1), VP (5), 20b (PPC);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Nhựt Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 809/2024/DS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 809/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y ÁN SƠ THẨM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger