Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 808/2024/ HNGĐ-ST

Ngày: 05-9-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi

con chung.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Trọng Hiền
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Đông;
  • Bà Nguyễn Thị Vân
  • - Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Lệ - CBTA.
  • - Đại diện VKSND TP Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thuận – Kiểm Sát Viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn – tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 487/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23/7/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Đoan T1, sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn T, xã N, TP ., tỉnh Bình Định.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn T, xã N, TP ., tỉnh Bình Định.

Địa chỉ hiện nay: 3 P, P. L, TP ., tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ S1 trình bày: Chị và anh S tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 2012, đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn T, xã N, TP. đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S thường xuyên ăn nhậu, về đánh chị nhiều lần, chị cũng nhiều lần khuyên nhưng anh S không thay đổi nên mâu thuẫn kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2024. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh S để ổn định cuộc sống.

Vợ chồng có 02 con chung tên: Nguyễn Hồ Ti N, sinh ngay 25/10/2012 và Nguyễn Hồ Gia B, sinh ngày 17/8/2019; Ly hôn chị xin nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chị T1 có Đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà hôm nay.

Bị đơn anh Nguyễn Văn S được Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập hợp lệ để anh S đến tòa khai báo, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh S không đến toà. Tại phiên toà hôm nay anh S vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu việc tuân theo quy định pháp luật tố tụng Dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử.

Tại phiên Toà HĐXX, Thư ký thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T1 đối với anh S; Về con chung: Giao cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung; Chị T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét;

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ-ST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn anh Nguyễn Văn S vắng mặt lần thứ hai không có lý do; Nguyên đơn chị Hồ Thị Đoan T1 có Đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 238 BLTTDS Toà tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung; Bị đơn đang cư trú tại 3 P, P. L, TP tỉnh Bình Định nên xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51, 56, 81.82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về nội dung tranh chấp: Chị T1 và anh S tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S thường xuyên ăn nhậu, về đánh chị nhiều lần, chị cũng nhiều lần khuyên nhưng anh S không thay đổi nên mâu thuẫn kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2024. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh S để ổn định cuộc sống.

Theo Biên bản xác minh ngày 18/7/2024 địa phương cung cấp: Chị T1 và anh S sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn T, xã N, TP ., trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn nhưng nguyên nhân nào mâu thuẫn thì địa phương không biết, vì khi mâu thuẫn không có báo chính quyền địa phương; Chị T1 và anh S có 02 con chung chưa thành niên, nếu ly hôn ai đủ điều kiện nuôi con hay không địa phương cũng không thể biết được.

HĐXX xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị T1 và anh S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên HĐXX chấp nhận đơn của chị T1 xin ly hôn đối với anh S.

Trong quá trình chung sống chị T1 và anh S có 02 con chung tên: Nguyễn Hồ Ti N, sinh ngay 25/10/2012 và Nguyễn Hồ Gia B, sinh ngày 17/8/2019 hiện nay đang ở với chị T1. Ly hôn chị T1 xin được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con

HĐXX xét thấy: Cháu Nguyễn Hồ Ti N, sinh ngay 25/10/2012, hiện nay trên 7 tuổi, nguyện vọng của cháu N xin được ở với mẹ, Nguyễn Hồ Gia B, sinh ngày 17/8/2019 hiện nay đang ở với chị T1. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặc, ổn định đời sống về tâm sinh lý của cháu N và cháu B nên HĐXX giao cháu N và cháu B cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T1 không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Đieàu 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T2.

Tuyên xử:

1- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Đoan T1 ly hôn anh Nguyễn Văn S.

2- Về con chung:

  • + Giao 02 con chung tên: Nguyễn Hồ Ti N, sinh ngay 25/10/2012 và Nguyễn Hồ Gia B, sinh ngày 17/8/2019cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng.
  • + Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên có quyền xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không bên nào được ngăn cản, nếu lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, HĐXX không xem xét.

4- Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị T1 phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001076 ngày 10/6/2024 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị T1 đã nộp đủ án phí.

Chị T1 và anh S có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Quy Nhơn;
  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - Đương sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thân Trọng Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 808/2024/ HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 808/2024/ HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger