Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 808/2025/DS-PT

Ngày: 27-11-2025

“Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh;
Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt;
Ông Đinh Chí Tâm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Võ Trung Hiếu- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 574/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền” .

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 93/2025/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 530/2025/QĐ-PT, ngày 27 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 219/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2025 giữa:

  • - Nguyên đơn: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1967.
  • Địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  • Đại diện ủy quyền: Anh Trần Quang V, sinh năm 1984.
  • Địa chỉ: A T, khu phố H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Bị đơn: Bà Đặng Thị S, sinh năm 1957.
  • Địa chỉ: Ấp Chùa Đ1, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Võ Văn Ú, sinh năm 1976;
    2. Địa chỉ: Ấp X, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Chị Trần Trung H, sinh năm 1992;
    4. Chị Trần Trung T, sinh năm 1995;
    5. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1959;
    6. Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

    7. Chị Trần Trung T1, sinh năm 1993;
    8. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

    9. Anh Đặng Duy T2, sinh năm 1988;
    10. Địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

      Tạm trú: Ấp X, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

    11. Ngân hàng N - Chi nhánh huyện G, tỉnh Tiền Giang;
    12. Địa chỉ: Khu phố D, xã T tỉnh Đồng Tháp.

    13. Anh Đoàn Thanh T3, sinh năm 1977.
    14. A H, phường P, thành phố Hồ Chí Minh.

  • - Người kháng cáo: Bà Đặng Thị S là bị đơn.

(Ông V, bà S, chị H mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 12/8/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Văn D và đại diện ủy quyền của nguyên đơn là anh Trần Quang V trình bày:

Khoảng tháng 02/2023 (âm lịch), ông D có nhận thi công san lấp ao và nâng nền cho bà Đặng Thị S thông qua sự giới thiệu của anh Võ Văn Ú, với giá 320.000 đồng/xe/02m³ đất và anh Ú được trả hoa hồng 10.000 đồng/xe. Quá trình san lấp, ông lấy đất (các chủ đất kêu ông gạn đất ruộng và cho đất, không tính tiền) và thu mua đất mặt ruộng của nhiều chủ đất khác để đổ cho bà S. Ông có đưa cho bà S 01 quyển phiếu, mỗi xe đổ đất cho bà S thì bà S đưa cho tài xế 01 phiếu. Khoảng 20 - 25 ngày sau khi đã đổ xong, hai bên đối chiếu tổng số phiếu thì ông đã đổ cho bà S tổng cộng 514 xe đất, với tổng số tiền là 164.480.000 đồng. Đến ngày 21/5/2023, bà S chỉ trả được số tiền 50.000.000 đồng nên ông viết biên nhận và yêu cầu bà S ký nhận đối với số tiền còn nợ lại là 114.480.000 đồng, khi đó bà S xin trả dần nên ông đồng ý cho bà thanh toán làm 04 lần như sau:

  • - Ngày 30/5/2023, trả 20.000.000 đồng;
  • - Ngày 20/8/2023, trả 30.000.000 đồng,
  • - Tháng 12/2023, trả 30.000.000 đồng;
  • - Tháng 3/2024, trả số tiền còn lại là 34.480.000 đồng.

Tuy nhiên, tính đến tháng 3/2024, bà S chỉ trả được tổng số tiền 45.000.000 đồng với các lần trả như sau: Ngày 30/5/2023 trả 20.000.000 đồng; ngày 15/8/2023 trả 15.000.000 đồng, ngày 02/3/2024 bà S trả 10.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 69.480.000 đồng. Ông nhiều lần đến nhà yêu cầu bà S trả tất số tiền này nhưng bà S viện nhiều lý do và chỉ hứa hẹn chứ không trả nên ông khởi kiện. Nay ông D yêu cầu bà S trả số tiền còn nợ là 69.480.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán với mức lãi suất theo quy định của pháp luật là 10%/năm tính từ ngày 03/3/2024 đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 18/4/2025, trả khi án có hiệu lực pháp luật.

Vào ngày 30/5/2023, khi bà S kêu ông D đến nhà để trả số tiền 20.000.000 đồng thì bà S hỏi ông có biết thuốc xịt cỏ nào hay vì nhà ông bán thuốc nông nghiệp nên ông có đem đến cho bà S 05 bịt thuốc diệt cỏ và vì chỗ tình nghĩa nên ông không lấy tiền. Trong quá trình đổ đất cho bà S thì bà S không có ý kiến gì và lúc đầu hai bên cũng không có thỏa thuận nếu đổ đất có cỏ thì sẽ không lấy tiền như bà S trình bày mà bà S viện lý do đất có cỏ khi mưa xuống để không trả tiền cho ông, điều này cũng không phù hợp với tập quán tại địa phương nên ông D không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà S. Đối với chi phí tố tụng thì ông D yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra, ông D không có yêu cầu gì khác.

* Theo đơn phản tố ngày 12/11/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đặng Thị S trình bày:

Tháng 02/2023 (âm lịch), anh Ú có giới thiệu ông D đổ đất cho bà để san lấp ao và nâng nền trên 02 thửa đất số 522 diện tích 832,7m², thửa đất số 527 diện tích 577,6m² và thửa đất số 616 trước đây là đất của chị bà là bà Đặng Thị X (bà X đã chết vào năm 2022) tọa lạc ấp Chùa Đ1, xã T, huyện G, do khi còn sống thì bà X có đất giáp ranh và có dặn khi nào bà S kêu đổ đất thì kêu đổ luôn bên đất của bà X. Bà không trực tiếp thỏa thuận với ông D mà thỏa thuận với anh Ú với giá 320.000 đồng/xe/02m³ đất và bà có nói là đổ đất sạch cho bà, khi đó anh Ú có nói: “Đổ đất có cỏ thì bà 1 không cần trả tiền và bà 1 trả cho con trước một phần, còn lại từ từ trả”. Do tập quán tại địa phương, hai bên chỉ thỏa thuận miệng, dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau mà không làm hợp đồng. Ông D có đưa cho bà 01 quyển phiếu, bà trực tiếp theo dõi việc đổ đất và tự xé phiếu đưa cho tài xế mỗi xe chở đất đến.

Trong quá trình đổ đất, bà thấy trong đất có cỏ nhưng được đổ lấp lớp bên dưới ao nên bà không nói gì. Tuy nhiên, sau đó bà thấy trong các xe đất có nhiều cỏ nên bà có kêu các lái xe cho ông D ngưng lại nhưng họ nan nỉ bà cho đổ tiếp; khi đó bà cũng không liên lạc được với ông D và anh Ú nên bà đành để các xe tiếp tục đổ đất và xé phiếu đưa cho họ đầy đủ. Sau khi đổ xong, bà có kêu máy cày của ông D san lấp đất từ chỗ cao xuống chỗ thấp cho bằng phẳng nhưng bà được trả lời là máy đi làm chỗ khác, sẽ quay lại nhưng sau đó vẫn không quay lại để san lấp. Khoảng 01 tháng sau, ông D và anh Ú đến nhà yêu cầu bà trả tiền 01 lần là 514 xe đất, với tổng số tiền 164.480.000 đồng, không cho nợ. Trong quá trình hai bên thương lượng thì bà có trả cho ông D được 95.000.000 đồng và hiện còn nợ lại 69.480.000 đồng. Bà thừa nhận ngày 21/5/2023, bà có thỏa thuận và ký tên vào quyển sổ của ông D đồng ý trả số tiền còn lại là 116.480.000 đồng làm 4 lần như ông D trình bày nhưng sau khi đổ đất do cỏ cú mọc quá nhiều, gia đình bà xịt thuốc hay mướn nhân công đào cỏ lên cũng không hết và không thể trồng hoa màu nên bà ngưng không trả tiền cho ông D nữa kể từ lần trả tiền sau cùng vào ngày 02/3/2024. Bà nhiều lần nói với ông D và anh Ú đổ đất có cỏ cú nên bà không trồng hoa màu được thì ông D có đem thuốc diệt cỏ đến cho bà nhưng sau khi xịt (phun) thuốc xong thì cỏ vẫn không hết; sau đó thì ông D và anh Ú không nói gì.

Nay bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D vì ông D đổ 514 xe đất cho bà mọc đầy cỏ cú, bà không thể trồng trọt, không có thu nhập từ cây trái hoa màu mà phải tốn tiền mua thuốc xịt cỏ và mướn nhân công làm cỏ. Đồng thời, bà phản tố yêu cầu ông D móc hết 514 xe đất đã đổ cho bà trên 02 thửa đất số 522, 527 nêu trên để di dời đi nơi khác và san lấp lại cho bà 514 xe đất khác không có cỏ cú thì bà sẽ trả đủ số tiền còn nợ là 69.480.000 đồng.

Đối với khối lượng đất đã đổ trên thửa 616, thì hiện thửa đất này anh T2 (con trai bà X) đã chuyển nhượng cho người khác sau khi được đứng tên do nhận thừa kế nên bà và anh T2 sẽ tự thỏa thuận sau, bà không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn Ú trình bày:

Anh là hàng xóm của bà S, không có quan hệ họ hàng với hai bên đương sự. Đầu năm 2023, bà S cần đổ đất lấp ao khoảng 100 xe nên anh có giới thiệu ông D đến gặp bà S để thỏa thuận đổ đất cho bà S. Ông D có trả tiền hoa hồng cho anh 10.000 đồng/xe đất. Lúc đầu bà S có nói là đổ đất sạch cho bà, anh không nghe hai bên thỏa thuận nếu đổ đất có cỏ cú thì sẽ không trả tiền như bà S trình bày. Sau đó, anh thuê kobe dùm bà S để dọn mặt bằng cho xe vào đổ đất. Lúc đầu bà S chỉ đổ đất lấp ao; sau đó, bà S kêu đổ tiếp để nâng nền và khi bà S kêu ngưng vào khoảng tháng 5/2023 thì ông D đã đổ cho bà S được 514 xe như ông D trình bày. Anh biết ông D lấy đất của nhiều chủ đất ruộng để đổ cho bà S. Nhà anh ở gần nhà bà S (cách khoảng 300m - 400m) nên anh thường xuyên có mặt theo dõi các xe đổ đất cho bà S. Mỗi xe đất chở đến thì bà S xé phiếu đưa cho tài xế đem về đưa lại ông D như ông D trình bày. Anh thấy máy ủi có san lấp bằng phẳng, khi đổ đất thì không thấy đất có cỏ nhưng đến khi mưa xuống thì anh thấy đủ các loại cỏ mọc lên ở vị trí đất mà ông D đã đổ. Thời điểm đó, ông D còn đổ đất cho ông 6 Sài, sát bên nhà bà S nhưng anh không biết cỏ có mọc lên hay không. Anh không có yêu cầu gì trong vụ án này và cam đoan lời khai trên là đúng sự thật. Anh xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn D. Buộc bà Đặng Thị S có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn D số tiền còn nợ là 77.296.500 đồng (Bảy mươi bảy triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng), gồm: 69.480.000 đồng nợ gốc và 7.816.500 đồng nợ lãi, thực hiện trả 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đặng Thị S về việc yêu cầu ông Phạm Văn D móc hết 514 xe đất đã đổ cho bà trên 02 thửa đất số 522 và 527 cùng tờ bản đồ số 16 tọa lạc tại ấp C, xã T để di dời đi nơi khác, san lấp lại cho bà 514 xe đất khác không có cỏ cú thì bà sẽ trả đủ số tiền còn nợ là 69.480.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và tuyên về quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: bà S có yêu cầu kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà S.
  • - Bị đơn là bà S không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị H (con của bà S) thống nhất với ý kiến trình bày của bà S, không có yêu cầu gì.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm theo hướng, buộc bà S phải có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ cho ông D và tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, điều chỉnh cách tuyên của cấp sơ thẩm về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ 1 lần nhằm để thuận tiện trong việc thi hành án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông D đối với bị đơn là bà S về việc yêu cầu bà S trả số tiền thuê ông D san lắp đất trên 02 thửa đất của bà S nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ trả tiền” là phù hợp với quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Sau khi xét xử sơ thẩm, phía bị đơn là bà S không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo, Tòa án tỉnh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm, phù hợp với quy định tại Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu kháng cáo của bà S tại phiên toà phúc thẩm về việc yêu cầu ông D phải có biện pháp làm sạch cỏ cú trên phần đất đã san lắp cho bà; Bà S mới đồng ý trả phần tiền còn nợ lại cho ông D; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Việc bà S thuê ông D đổ đất san lắp ao và nâng nền trên hai thửa đất của bà S thì giữa ông D và bà S chỉ thỏa thuận miệng, không có lập thành văn bản, nên việc thoả thuận phần đất được đổ vào 02 thửa đất của bà S phải là đất sạch thì bà S không có chứng cứ gì để chứng minh.

Nội dung của việc giao dịch xoay quanh việc đổ đất, san lắp ao, nâng nền. Mục đích của việc san lắp để bà S trồng hoa màu. Do đó, việc giao kết hợp đồng giữa ông D và bà S không phù hợp về mặt hình thức.

Xét yêu cầu kháng cáo của bà S về việc không đồng ý trả cho ông Phạm Văn D số tiền còn nợ là 77.296.500 đồng (Bảy mươi bảy triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng), trong đó gồm: 69.480.000 đồng là phần tiền còn nợ và 7.816.500 đồng là phần tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Bà S thừa nhận vào năm 2023, ông D có đổ 514 xe đất loại 2m³/xe theo yêu cầu của bà S để san lấp ao và nâng nền với giá 320.000 đồng/xe, tổng số tiền san lấp đất là 164.480.000 đồng; bà S đã trả cho ông D được 04 lần với tổng số tiền là 95.000.000 đ và hiện còn nợ lại 69.480.000 đồng đến nay chưa trả. Lý do bà S không chịu trả tiếp cho ông D vì bà S cho rằng đất có cỏ cú, không đúng yêu cầu của bà, nhưng bà S không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc ông D đã đổ đất không sạch. Hơn nữa, trong suốt quá trình ông D thực hiện đổ đất thì bà S cũng không có ý kiến phản đối hoặc có yêu cầu gì đối với ông D. Đồng thời, từ khi ông D thực hiện công việc xong, bà S cũng nhiều lần trả tiền cho ông D. Do đó, có sơ sở xác định ông D đã hoàn thành nghĩa vụ nên bà S phải có nghĩa vụ thanh toán tiền đầy đủ cho ông D.

Mặc dù, trong giấy thỏa thuận trả nợ ngày 21/5/2023 không có thỏa thuận về lãi suất chậm thanh toán nhưng phía bà S đã thực hiện không đúng cam kết vì trên tờ thỏa thuận có ghi rõ thời hạn thanh toán, khoản tiền phải thanh toán. Vì vậy, việc ông D yêu cầu bà S phải có trách nhiệm trả tiền lãi chậm thanh toán là phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện V1 trình bày và đề nghị: Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của S và đề nghị Hội đồng xét xử điều chỉnh cách tuyên của cấp sơ thẩm về việc tuyên trả 1 lần khi án có hiệu lực pháp luật. Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.

Do giữ nguyên án sơ thẩm nên bà S phải chịu tiền án phí phúc thẩm. Nhưng do bà S là người cao tuổi và có yêu cầu miễn tiền án phí nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm cho bà S.

Các nội dung còn lại của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 275, 280, khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đặng Thị S;
  2. Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 93/2025/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp). Tuy nhiên, nhằm để thuận tiện trong việc thi hành án, Hội đồng xét xử điều chỉnh cách tuyên về việc tuyên thực hiện trả 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn D.

    Buộc bà Đặng Thị S có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn D số tiền còn nợ là 77.296.500 đồng (Bảy mươi bảy triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng); Trong đó, gồm có: số tiền còn nợ là 69.480.000 đồng và 7.816.500 đồng tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đặng Thị S về việc yêu cầu ông Phạm Văn D móc hết 514 xe đất đã đổ cho bà trên 02 thửa đất số 522 và 527 cùng tờ bản đồ số 16 tọa lạc tại ấp C, xã T để di dời đi nơi khác, san lấp lại cho bà 514 xe đất khác không có cỏ cú thì bà sẽ trả đủ số tiền còn nợ là 69.480.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - H1 lại ông D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.814.000 đồng theo biên lai thu số 0013611 ngày 30/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông.
  • - Bà S được miễn nộp án phí do là người cao tuổi.

Về án phí phúc thẩm:

Bà S được miễn nộp án phí do là người cao tuổi.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐ,KT, TT VÀ THA TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND Khu vực 2 – Đồng Tháp;
  • - Phòng THADS Khu vực 2 – Đồng Tháp;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Võ Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 808/2025/DS-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền

  • Số bản án: 808/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y ÁN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger