Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 807/2024/HS-PT

Ngày: 11/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Đức Hiếu

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Văn Thành

Ông Nguyễn Thanh Nhã

- Thư ký phiên tòa:

Ông Lý Minh Chính – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Đặng Khánh Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 11/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 630/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 630/2024/QĐXXPT-HS ngày 09/08/2024 đối với bị cáo Trần Sơn T và Trần Hà P do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 178/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Sơn T, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ X phường TQ, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Số X ngõ Y NAN, phường TM, quận HM, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B, con bà Hoàng Thị H; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 04/3/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội Cưỡng đoạt tài sản. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Trần Hà P, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Số 28/78 KG, phường ĐK, quận HM, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông TQD, con bà VTP; Chồng là Vũ Đức I (Đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 31/12/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 4 năm về tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2023 đến ngày 25/12/2023. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án này còn có 01 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 02/10/2023, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội – Công an quận Đống Đa tuần tra kiểm soát tại khu vực phố Khương Thượng, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội phát hiện đối tượng Hà Ngọc T (Sinh năm 1964; trú tại số X ngách Y đường TC, phường KT, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, T tự giác giao nộp 02 tờ tích kê mua số lô 3 càng 507, 570, 542, 597, 897, 524, 824 x 10.000 đồng; Số đề 02 x 18.000 đồng (Tổng cộng 88.000 đồng) và khai nhận vừa đánh bạc dưới hình thức mua số lô đề với Trần Hà P tại địa chỉ số 89 phố Khương Thượng, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Hồi 18 giờ 10 phút cùng ngày, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an quận Đống Đa đã tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Trần Hà P đang có hành vi tổng hợp các số lô đề, chuyển số lô đề qua tin nhắn Telegram cho chủ tại khu vực số X phố KT, phường KT, quận ĐĐ, Thành phố Hà Nội.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Hà P khai nhận: Khoảng cuối tháng 7/2023, thông qua nhóm tìm kiếm việc làm trên Facebook, P đến cửa hàng xổ số tại địa chỉ số X phố KT, phường KT, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội và gặp Trần Sơn T để xin việc làm. T và P thống nhất: P được T trả công 7.000.000 đồng/tháng để làm công việc bán xổ số và bán số lô đề cho khách có nhu cầu rồi tổng hợp thành bảng đề để chuyển cho T. Tất cả số lô đề bán trong ngày P tổng hợp ra giấy thành bảng đề rồi sử dụng ứng dụng điện thoại Telegram (Đăng ký sim số 0978699371) nhắn gửi hình ảnh qua tin nhắn trên Telegram của T (đăng ký sim số 0977778796, P lưu trong danh bạ điện thoại là “T”, tên tài khoản Telegram là “mi pho”).

Về cách thức, P bán số lô đề trực tiếp cho khách qua tích kế hoặc qua tin nhắn Zalo. Đối với khách mua trực tiếp sẽ qua gặp P tại cửa hàng tại số 89 phố Khương Thượng và đọc số lô đề muốn mua, P sẽ ghi thành 02 bản tích kê (01 bản chính và 01 bản giấy than), số lô ký hiệu “LT1”, số đề ký hiệu “LT2”, số lô xiên ký hiệu “LT3”, sau đó giao cho khách bản chính còn mình giữ bản in giấy than. Đối với khách mua qua tin nhắn Zalo khách sẽ nhắn tin vào tài khoản Zalo của P, nếu đồng ý P sẽ nhắn lại “ok” để xác nhận, tiền khách sẽ trả lại sau. Việc thanh toán thắng, thua giữa P và T diễn ra trực tiếp vài ngày một lần tại cửa hàng xổ số, còn thanh toán giữa P và khách sẽ diễn ra ngay sau khi có kết quả xổ số hoặc vào ngày hôm sau tại cửa hàng xổ số.

Trong ngày 02/10/2023, Trần Hà P đã bán số lô đề cho khoảng 20 người, hầu hết là khách vãng lai nên P không biết tên tuổi, địa chỉ của họ. Trong đó, 04 khách mua qua tin nhắn Zalo thì P biết số điện thoại và tài khoản Zalo, không biết tên tuổi, địa chỉ những người này. Tỷ lệ số lô đề T dặn P bán nhận của khách là: Lô x 22,5%, đề x 83%, lô xiên x 83%. Ví dụ 100 điểm lô thu của khách 2.250.000 đồng, 100.000 đồng số đề thì thu của khách 83.000 đồng, 100.000 đồng số lô xiên thì thu của khách 83.000 đồng. Toàn bộ số lô đề bán trong ngày 02/10/2023, P đã tổng hợp, chuyển cho T qua tin nhắn Telegram. Tổng số tiền Trần Hà P đã bán, chuyển cho T trong ngày 02/10/2023 là 32.013.000 đồng. Đối với các bảng số lô đề, tích kê các ngày trước, P khai đã vứt bỏ không còn lưu giữ.

Từ tháng 7/2023, mỗi ngày số người mua số lô đề của P ngày nhiều khoảng 20 người, ngày ít khoảng 10 người, trung bình mỗi ngày khoảng 15 người. Số tiền thu được trung bình khoảng 15.000.000 đồng. P chỉ được trả tiền công, không thu lợi từ khoản tiền thắng - thua với khách.

Đối với những người mua số lô đề của P qua Zalo, P khai gồm:

  • - Nguyễn Mạnh H sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Gió Cửu Long”. Ngày 02/10/2023, H mua các số lộ 181, 676 x 10 điểm; 55, 00, 161, 393, 454, 020, 121, 292, 282, 090 x 15 điểm; 363 x 20 điểm; 050 x 45 điểm; số đề 181, 676, 55, 00, 161 x 50.000 đồng; 050 x 151.000 đồng; 393 x 39.000 đồng; 454 x 45.000 đồng; 020, 121 x 21.000 đồng; 292 x 29.000 đồng; 282 x 82.000 đồng; 090 x 54.000 đồng; 363 x 72.000 đồng. Tổng số tiền 11.328.000 đồng, số tiền này H chưa thanh toán. H và P thỏa thuận giá mua bán lô đề là lô x 22,5; Đề x 83%. Việc thanh toán thắng, thua sẽ được thực hiện qua chuyển khoản ngân hàng. Qua xác minh xác định từ ngày 20/9/2023 đến ngày 01/10/2023, Trần Hà P đã chuyển cho Hùng tổng số tiền 18.273.000 đồng là tiền H thắng bạc. Ngày 21/9/2023, H đã chuyển cho P số tiền 2.552.000 đồng do thua bạc.
  • - Hoàng Hải L sử dụng số điện thoại 0339.331.xxx. Ngày 02/10/2023, L mua số lô ba càng 102 × 40.000 đồng; số đề 02, 78 x 40.000 đồng; 282, 88, 20, 575, 25, 070 x10.000 đồng; các số đuôi 2 x 10.000 đồng với tổng số tiền 310.000 đồng, số tiền này L chưa thanh toán cho P.
  • - Ngô Duy H sử dụng số điện thoại 0965.308.xxx, P lưu trong danh bạ điện thoại là “Anh Ông Nước”. Ngày 02/10/2023, H mua số lỗ 57, 09 x 5 điểm với tổng số tiền 225.000 đồng, số tiền này H chưa thanh toán cho P. Qua xác minh xác định số điện thoại trên được đăng ký bởi Nguyễn Văn N (Sinh năm 1956; trú tại thôn PT, xã VN, huyện ĐA, thành phố Hà Nội). Cơ quan điều tra xác định N không đăng ký sử dụng hay có quan hệ gì với H, P. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với N.
  • Một người phụ nữ tên N, khoảng 30 tuổi, sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Ngọc Pham”, P không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Ngày 02/10/2023, N mua số lô 89, 98 x 10 điểm với tổng số tiền 450.000 đồng, số tiền này N chưa thanh toán cho P.

Ngày 25/12/2023, Trần Sơn T đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Trần Sơn T khai: Khoảng cuối tháng 7/2022, T thuê lại tầng 1 nhà số X phố KT, phường KT, quận ĐĐ, Hà Nội để mở quán bán xổ số. Quá trình kinh doanh, do muốn có thêm thu nhập nên vào tháng 7/2023 T nảy sinh ý định bán số lô đề. T đã đăng bài lên mạng xã hội để tìm và thuê Trần Hà P bán xổ số kết hợp bán chuyển số lô đề cho mình. T và P thỏa thuận với nhau T sẽ trả lương cho P 7.000.000 đồng/tháng để P bán xổ số và bán số lô đề cho khách có nhu cầu. Các số lô đề khách mua được P tổng hợp thành bảng và chụp ảnh gửi qua Telegram của T là “mi pho”, đăng ký bằng số điện thoại 0977.778.xxx, để T thanh toán tiền thắng - thua với khách. Việc thanh toán giữa T và P diễn ra hàng ngày, trực tiếp tại cửa hàng xổ số của T, còn việc thanh toán với khách sẽ do P thực hiện. Ngày 02/10/2023, sau khi T nhận được 02 bảng số lô đề do P gửi thì biết P đã bị bắt giữ. T đã vứt bỏ điện thoại kèm sim số 0977.778.xxx. Sau đó, biết không thể trốn tránh, ngày 25/12/2023 T đến Cơ quan công an đầu thú. Cơ quan điều tra xác định T xác nhận 02 bảng số lô đề thu trong ngày 02/10/2023 mà P đã gửi qua tin nhắn Telegram cho T tổng số tiền là 32.013.000 đồng. Đối với máy điện thoại có sim số 0977.778.xxx mà T sử dụng, sau khi biết P bị bắt giữ, T đã vứt bỏ chiếc điện thoại này.

Từ tháng 7/2023, T thuê Trần Hà P bán số lô đề, ngày nhiều khoảng 20 người, ngày ít khoảng 10 người, trung bình mỗi ngày khoảng 15 người. Số tiền thu được trung bình khoảng 15.000.000 đồng. Tính đến thời điểm P bị bắt, T chưa được hưởng lợi do số tiền phải trả do thua nhiều hơn được nhận do thắng.

Đối với Nguyễn Mạnh H: Tại Cơ quan điều tra, Hùng khai khoảng cuối tháng 9/2023, H gặp và quen biết Trần Hà P. Biết P có nhận bán lô đề nên Hùng đã kết bạn Zalo với P. H đã sử dụng tài khoản Zalo số điện thoại 0583.616.xxx, mang tên “Gió Cửu Long”, kết bạn với Zalo của P mang tên “P Chec - Diệu An”. Khoảng cuối tháng 9/2023 đến ngày 02/10/2023, Hùng nhắn tin mua số lô đề của P. H và P thỏa thuận giá mua bán lô đề là lô x 22,5; Đề x 83%. Việc thanh toán thắng, thua sẽ được thực hiện qua chuyển khoản ngân hàng. H sử dụng tài khoản ngân hàng VIB số tài khoản 381819999, P sử dụng tài khoản Techcombank số 14020631553013. Cụ thể ngày 02/10/2023, H nhắn tin cho P mua các số lô 181, 676 x 10 điểm; 55, 00, 161, 393, 454, 020, 121, 292, 282, 090 x 15 điểm; 363 x 20 điểm; 050 x 45 điểm; số đề 181, 676, 55, 00, 161 x 50.000 đồng; 050 x 151.000 đồng; 393 x 39.000 đồng; 454 x 45.000 đồng; 020, 121 x 21.000 đồng; 292 x 29.000 đồng; 282 x 82.000 đồng; 090 x 54.000 đồng; 363 x 72.000 đồng. P xác nhận “OK” là đồng ý. Tổng số tiền H đánh bạc với P vào ngày 02/10/2023 là 11.328.000 đồng. H thắng bạc được khoảng 2.000.000 đồng, tuy nhiên không thấy P chuyển tiền vì lúc này P đã bị bắt. Khoảng tháng 11/2023, H có ý định bán số điện thoại 0583.616.xxx nên đã xóa tài khoản Zalo đăng ký bằng số điện thoại trên. Tuy nhiên, hiện H vẫn đang sử dụng số điện thoại này.

Tại bản Kết luận giám định số 7967/KL-KTHS ngày 07/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, kết luận giám định chữ viết trên các bảng tổng hợp số lô đề thu giữ của Trần Hà P trong ngày 02/10/2023 như sau: “...Chữ viết, chữ số trên các mẫu cần giám định (Ký hiệu từ A1, A2) với chữ viết, chữ số đứng tên Trần Hà P trên các mẫu so sánh (Ký hiệu M1, M2) là chữ do cùng một người viết ra.”

Tại bản Kết luận giám định số 7940/KL-KTHS ngày 06/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, kết luận giám định chữ viết trên các tờ tích kê ghi số lộ đề thu giữ của Trần Hà P trong ngày 02/10/2023 như sau: “...Chữ viết, chữ số (trừ chữ viết trong khoanh mực màu đỏ) trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A52 với chữ viết, chữ số đứng tên Trần Hà P trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là chữ do cùng một người viết ra. ”

Vật chứng vụ án: Thu giữ của Hà Ngọc T gồm: 02 tờ tích kê ghi số đề ngày 02/10/2023. Thu giữ của Trần Hà P: 01 điện thoại Samsung Galaxy S23+ màu tím, đã qua sử dụng, kèm sim; 02 bảng số lô đề ngày 02/10/2023; 50 tích kê ghi số lô đề ngày 02/10/2023; Tiền mặt 12.830.000 đồng. Thu giữ của Nguyễn Mạnh H: 01 điện thoại OPPO màu đen, đã qua sử dụng, kèm sim.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 178/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 Điều 51 (đối với Trần Sơn T áp dụng thêm khoản 2 Điều 51); Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Sơn T, Trần Hà P phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Xử phạt Trần Sơn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Xử phạt Trần Hà P 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ vào thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2023 đến ngày 25/12/2023.

Ngày 28/6/2024, bị cáo Trần Sơn T và Trần Hà P có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định các bị cáo có đơn kháng cáo là hợp lệ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về hình thức.

Về hình phạt và xét kháng cáo của các bị cáo: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Sơn T và Trần Hà P, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 178/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo; Cụ thể: Tuyên bố bị cáo Trần Sơn T và Trần Hà P phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

  • Xử phạt bị cáo Trần Sơn T 24 tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 11/9/2024.
  • Xử phạt bị cáo Trần Hà P 15 tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 11/9/2024.
  • Các bị cáo công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Các bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, hiện các bị cáo là lao động chính trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định các bị cáo có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Trần Sơn T và Trần Hà P công nhận bản án hình sự sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của người liên quan, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ vật chứng, sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 02/10/2023, tại khu vực trước số nhà X phố KT, phường KT, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội, bị cáo Trần Hà P có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề với tổng số tiền đánh bạc là 32.013.000 đồng, rồi chuyển cho bị cáo Trần Sơn T là người thuê Trần Hà P ghi số lô, số đề. Hành vi của bị cáo Trần Sơn T thuê Trần Hà P ghi số lô, số đề với tổng số tiền đánh bạc 32.013.000 đồng đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” với tình tiết “Tổng số tiền dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 178/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã tuyên bố bị cáo Trần Sơn T và bị cáo Trần Hà P phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt và xét kháng cáo của các bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò của các bị cáo; Sau khi xem xét đơn kháng cáo của các bị cáo và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Bị cáo Trần Sơn T và bị cáo Trần Hà P có nhân thân xấu, tuy nhiên trong vụ án trước các bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu, là đồng phạm giúp sức, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được xóa án tích từ lâu.

Bị cáo Trần Sơn T và bị cáo Trần Hà P phạm tội tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề với tổng số tiền 32.013.000 đồng không quá lớn và chưa được hưởng lợi thực tế. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Bị cáo Trần Sơn T ra đầu thú; Bị cáo Trần Hà P được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới: Bị cáo có bố mẹ là người có công với cách mạng, bố là bệnh binh, được tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, mẹ được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba.

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Trần Sơn T có vai trò cao hơn bị cáo Trần Hà P. Bản án hình sự sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò của các bị cáo để xử phạt bị cáo Trần Sơn T 24 tháng tù và xử phạt bị cáo Trần Hà P 15 tháng tù là phù hợp. Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt tù đối với các bị cáo.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Trần Sơn T, Trần Hà P hiện là lao động chính trong gia đình. Bị cáo Trần Sơn T đang nuôi 03 con nhỏ, con nhỏ nhất sinh năm 2023. Bị cáo Trần Hà P đã ly hôn chồng và đang nuôi con sinh năm 2011 là lứa tuổi cần người mẹ chăm sóc. Mặt khác, xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và việc cho các bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội nên Hội đồng xét xử quyết định cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và ấn định thời gian thử thách để các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa P cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 178/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo, cụ thể:

Tuyên bố bị cáo Trần Sơn T và bị cáo Trần Hà P phạm tội “Tổ chức đánh bạc”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Sơn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 11/9/2024. Giao bị cáo Trần Sơn T cho Ủy ban nhân dân phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Xử phạt bị cáo Trần Hà P 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 11/9/2024. Giao bị cáo Trần Hà P cho Ủy ban nhân dân phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Sơn T và bị cáo Trần Hà P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - CQCSĐT quận Đống Đa;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - TAND quận Đống Đa;
  • - CQTHADS quận Đống Đa;
  • - Bị cáo;
  • - UBND P.Thịnh Quang, Q.Đống Đa;
  • - UBND P.Đại Kim, Q.Hoàng Mai;
  • - Lưu Hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Đức Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 807/2024/HS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức đánh bạc (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 807/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 178/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo, cụ thể: Tuyên bố bị cáo Trần Sơn T và bị cáo Trần Hà P phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Sơn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 11/9/2024. Giao bị cáo Trần Sơn T cho Ủy ban nhân dân phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Xử phạt bị cáo Trần Hà P 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 11/9/2024. Giao bị cáo Trần Hà P cho Ủy ban nhân dân phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger