Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 806/2025/DS-PT

Ngày: 27 - 11 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.
  • - Các Thẩm phán:
    • Bà Nguyễn Thị Võ Trinh;
    • Ông Đinh Chí Tâm.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Trần Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 475/2025/TLPT-DS Ngày 10 tháng 10 năm 2025 về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 104/2025/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 585/2025/TLPT-DS ngày 04/11/2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Huỳnh Thị H, sinh năm 1964;
  • Địa chỉ: Ấp M, xã L, tỉnh Đồng Tháp.

  • Bị đơn: Cao Văn T, sinh năm 1986;
  • Địa chỉ: Ấp M, xã L, tỉnh Đồng Tháp.

  • Người kháng cáo: Anh Cao Văn T là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:

Do quen biết và tin tưởng nhau nên bà có cho anh Cao Văn T vay tổng số tiền là 500.000.000 đồng, cụ thể:

Vào ngày 10/9/2019, bà có cho anh T vay số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 4%/tháng. Lúc này anh T có hỏi mượn cái sân trước nhà của bà để đem một số cây kiểng lại bán. Trong số cây kiểng này, anh T có đem cây mai mà hiện nay còn ở nhà bà nhằm tạo lòng tin cho bà. Đối với số tiền này, anh T có đóng lãi cho bà được 02 tháng.

Đến tháng 11/2019, anh T tiếp tục vay của bà số tiền 200.000.000 đồng. Tổng số tiền anh T vay của bà là 500.000.000 đồng. Hai bên có lập hợp đồng vay tiền ghi lùi ngày lại là ngày 10/9/2019, thỏa thuận thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 10/9/2019.

Sau đó, anh T không đóng tiền lãi cho bà nữa và bỏ trốn khỏi địa phương. Trong thời gian này, do không liên hệ được với anh T nên bà mới chăm sóc cây mai và nhờ ông Nguyễn Thanh H1 và bà B Năm bán cây mai giùm để bà lấy lại số tiền mà anh T đã vay của bà. Nhưng cây mai không bán được, hiện nay vẫn còn ở nhà bà.

Đến khi anh T về địa phương, bà đã nhiều lần yêu cầu anh T trả tiền nhưng anh T không thực hiện mà kêu bà lấy cây mai để trừ nợ nhưng bà không đồng ý.

Do đó, bà khởi kiện yêu cầu anh T trả số tiền vốn là 500.000.000 đồng. Bà xin rút đối với yêu cầu trả tiền lãi theo mức lãi suất 1,66% tính từ tháng 12/2019 đến ngày xét xử vụ án. Còn cây mai thì anh Trọng T1 chở về, bà không nhận.

- Bị đơn anh Cao Văn T trình bày:

Anh thừa nhận có vay của bà H nhiều lần tiền, tổng cộng là 500.000.000 đồng, lãi suất 4%/tháng. Khi vay, anh có làm hợp đồng vay tiền ghi ngày 10/9/2019. Anh có đóng lãi cho bà H được 03 tháng không có làm giấy tờ gì. Vào khoảng tháng 9/2019, anh có hỏi mượn phần sân phía trước nhà của bà H để đem một số cây kiểng lại bán. Trong số các cây kiểng có cây mai hiện còn ở nhà của bà H. Đến khoảng tháng 12/2019 thì anh chở hết các cây kiểng xuống chợ C để bán chợ tết, chỉ còn chừa lại một cây mai này vì anh mượn bà Hằng số tiền lớn, để cây mai lại nhằm tạo lòng tin cho bà H và ý của bà H cũng muốn giữ cây mai này lại.

Sau đó, bà H tự chở cây mai đi bán ở Vũng Tàu, M - Tiền Giang và Thành Phố Hồ Chí Minh nhưng bán không được. Có người trả giá cây mai 550.000.000 đồng nhưng bà H không đồng ý bán. Vì vậy, xem như bà H đã lấy cây mai của anh để trừ nợ số tiền 500.000.000 đồng nên anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 104/2025/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy đã xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H về việc yêu cầu anh Cao Văn T trả số tiền lãi theo mức lãi suất 1,66% tính từ tháng 12/2019 đến ngày xét xử vụ án.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H.
  3. Buộc anh Cao Văn T phải trả cho bà Huỳnh Thị Hằng S tiền 500.000.000 đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/6/2025 anh T làm đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm. Anh yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H. Do bà H đã nhận của anh một cây mai vàng và đồng ý trừ nợ xong.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:

  • + Về tố tụng:
  • Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự có mặt tại phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

  • + Về nội dung:
  • Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Cao Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ vào “Hợp đồng cho vay tiền đề ngày 10/9/2019” cùng lời thừa nhận của anh T, xác định anh có vay của bà Hằng số tiền 500.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 4%/tháng và thời hạn vay tiền là 06 tháng kể từ ngày 10/9/2025. Tuy nhiên, anh T cho rằng bà H đã lấy cây mai của anh và nhờ người đi bán ở nhiều nơi xem như đã trừ xong số tiền nợ nên anh không đồng ý trả tiền cho bà H. Phía bà H không thừa nhận có lấy cây mai của anh T để trừ nợ. Tại biên bản đối chất ngày 24/4/2025, cả anh T và bà H đều khẳng định giữa anh T và bà H không có giáp mặt hay làm giấy tờ để thỏa thuận việc bà H lấy cây mai của anh T để trừ số tiền vay 500.000.000 đồng. Anh T là người tự đem cây mai đến gởi ở nhà của bà H nhằm tạo lòng tin cho bà H khi vay tiền, hiện nay cây mai vẫn còn ở nhà của bà H. Ngoài ra, anh T cũng không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của anh. Đối với những người làm chứng cũng chỉ nghe nói lại, không ai trực tiếp chứng kiến việc thỏa thuận bà H đồng ý lấy cây mai của anh để trừ nợ. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H là có căn cứ.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm, anh T cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[2] Xét ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 91, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Cao Văn T.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp).
  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H về việc yêu cầu anh Cao Văn T trả số tiền lãi theo mức lãi suất 1,66% tính từ tháng 12/2019 đến ngày xét xử vụ án.
  4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H.
  5. Buộc anh Cao Văn T phải trả cho bà Huỳnh Thị Hằng S tiền vay là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
  6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  7. Về án phí:
  8. Anh Cao Văn T phải chịu 24.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0000404 ngày 04/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Anh T còn phải nộp tiếp số tiền còn lại là 24.000.000 đồng.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi Nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - TAND khu vực 4-Đồng Tháp;
  • - Phòng THADS khu vực 4- Đồng Tháp;
  • - Phòng GĐKTTT&THATAND tỉnh ĐT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT (N).

TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Sỹ Danh Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 806/2025/DS-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 806/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hằng-Trọng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger