TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 805/2023/HC-PT
Ngày 08 - 11 - 2023
V/v khởi kiện quyết định hành chính
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Thái Duy Nhiệm; |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Mạnh Hùng; |
| Ông Trần Xuân Thảo. |
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Chuyền, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa trực tuyến công khai để xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lí số: 595/2023/TLPT-HC ngày 16 tháng 8 năm 2023 về “Khởi kiện quyết định hành chính”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 52/2023/HC-ST ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12221/QĐ-PT ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữa các đương sự:
- * Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thúy L, sinh năm 1983;
- Địa chỉ: Số B Đà Nẵng, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng, có mặt;
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Ông Vũ Anh T, bà Đặng Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Xuân T1, bà Nguyễn Thị Thúy H1, Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Luật sư T có mặt, các Luật sư khác vắng mặt.
- * Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
- Người đại diện hợp pháp cho người bị kiện: Ông Lê Anh Q, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố H (theo văn bản ủy quyền số 725/QĐ-UBND ngày 23/3/2023); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- UBND thành phố H; trụ sở: Số A H, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng;
- Chủ tịch UBND huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
- UBND huyện T, thành phố Hải Phòng;
- * Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thúy L, có mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H, vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Anh Q, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố H (theo văn bản ủy quyền số 725/QĐ-UBND ngày 23/3/2023); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Chính Q1, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T (theo văn bản ủy quyền số 1114/QĐ-UBND ngày 03/3/2023); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy H2, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Chính Q1, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T (theo văn bản ủy quyền số 1114/QĐ-UBND ngày 03/3/2023), có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện trình bày như sau:
Ngày 02/6/2021 UBND huyện T, thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định số 2881/QĐ-UBND (sau đây gọi tắt là Quyết định 2881) để thu hồi diện tích 101,8m² đất ở nông thôn của hộ bà Nguyễn Thúy L, địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng để thực hiện khu tái định cư thuộc dự án đầu tư xây dựng cải tạo đường 359 đoạn từ Thủy Triều đến đường trục giao thông đô thị và công nghiệp B; tại vị trí: Thửa đất số 309/7C tờ bản đồ số 01 (thuộc thửa đất số 228D tờ bản đồ số 1 theo Mảnh trích đo địa chính tỷ lệ 1/1000 do Công ty Cổ phần T7 lập ngày 16/10/2019 được Sở T8 thẩm định ngày 02/3/2020). Cùng ngày 02/6/2021 UBND huyện T, Hải Phòng ban hành Quyết định số 2898/QĐ-UBND (sau đây gọi tắt là Quyết định 2898) về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng kèm theo phương án bồi thường số 19/PA-TCT. Theo phương án này thì bà L thuộc diện bị thu hồi đất và bồi thường bằng tiền.
Không đồng ý với các quyết định nêu trên, bà L đã có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện T đề nghị Hủy bỏ quyết định số 2881/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và phương án bồi thường kèm theo; đồng thời đề nghị giao 01 lô đất vào khu tái định cư của dự án.
Ngày 22/4/2022 Chủ tịch UBND huyện T ban hành quyết định số 6114/QĐ-UBND (sau đây gọi tắt là Quyết định 6114) về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thúy L (lần đầu). Theo đó, Chủ tịch UBND huyện T, Hải Phòng không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của bà. Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND huyện T; bà L tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố H. Ngày 05/10/2022 Chủ tịch UBND thành phố H ra quyết định số 3339/QĐ-UBND (sau đây gọi tắt là Quyết định 3339) về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thúy L (lần hai) với nhận định: “Tại thời điểm thu hồi đất bà Nguyễn Thúy L không đăng ký hộ khẩu tại nơi có đất bị thu hồi, không trực tiếp ăn ở trên thửa đất bị thu hồi, không phải di chuyển chỗ ở khi Nhà nước thu hồi đất nên không đủ điều kiện được bố trí tái định cư theo quy định tại Điều 79, Điều 86 Luật Đất đai năm 2013, Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ”.
Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (lần 2) của Chủ tịch UBND thành phố H, bà Nguyễn Thúy L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án hủy Quyết định 3339 và các quyết định hành chính có liên quan.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thúy L trình bày:
Bà Nguyễn Thúy L là chủ sử dụng đất tại thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng đã được UBND huyện T, Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (sau đây gọi tắt là GCNQSD) đất số CU 586534 vào sổ cấp CH 04462 cấp ngày 30/12/2019, nhưng Chủ tịch UBND thành phố H ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 với nhận định nêu trên là không phù hợp với quy định về bồi thường tại Luật Đất đai năm 2013; bởi lẽ: Căn cứ Điều 74; khoản 1 Điều 75; khoản 1 Điều 79 của Luật Đất Đai năm 2013; điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì tại thời điểm thu hồi đất bà là chủ sử dụng đất hợp pháp đồng thời bà không có thửa đất nào khác.
Mặt khác tại Điều 79 Luật Đất đai năm 2013 không hề có quy định nào về việc điều kiện được bồi thường về đất ở yêu cầu người sử dụng đất phải trực tiếp đang ở, sinh hoạt và có hộ khẩu tại địa phương. Thực tế sau khi lấy chồng bà chuyển khẩu về theo chồng để vợ chồng cùng hộ khẩu giấy tờ, sau đó bố mẹ bà đã tặng cho diện tích đất bị thu hồi thì bà đã tiến hành kè bờ và chuẩn bị xây nhà trên diện tích đất trên, ngoài ra diện tích bị thu hồi đã xây dựng một số công trình phụ trợ cho cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, trong thời gian chờ đợi bà và con gái đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ để ở.
Do đó, bà đề nghị được bồi thường bằng đất ở cùng mục đích sử dụng và có giá trị tương đương khi nhà nước thu hồi đất hoặc cấp 01 suất tái định cư có thu tiền.
Người bị kiện là Chủ tịch UBND thành phố H trình bày:
Về thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần hai đối với bà Nguyễn Thúy L đã đúng theo quy định pháp luật.
Về nguồn gốc đất: Theo sổ mục kê năm 1978 thửa đất số 309 tờ bản đồ số 01 diện tích 576,0m² do ông Nguyễn Văn T3 quản lý, sử dụng (ông Nguyễn Tất T4 là bố đẻ của ông Nguyễn Tất T5). Ngày 31/12/2009 ông Nguyễn Tất T5 và vợ là bà Vũ Thị T6 (bố mẹ đẻ của bà Nguyễn Thúy L) được UBND huyện T cấp GCNQSD đất thửa đất số 309-7, tờ bản đồ số 01 diện tích 549,0m². Năm 2019 ông T5 và bà T6 được UBND huyện T cấp GCNQSD đất thửa số 309-7 tờ bản đồ số 01 diện tích 650,0m² (tăng 101,0m² đất so với GCNQSD đất năm 2009). Năm 2019 ông Nguyễn Tất T5 và vợ là bà Vũ Thị T6 làm thủ tục tặng cho con gái là bà Nguyễn Thúy L diện tích 101,8m² đất, ngày 30/12/2019 bà Nguyễn Thúy L được UBND huyện T cấp GCNQSD đất số CU 586534 đối với thửa đất số 309/7C tờ bản đồ số 01 diện tích 101,8m² mục đích sử dụng là đất ở, nguồn gốc sử dụng là được tặng cho đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền.
Ngày 15/01/2019 bà Nguyễn Thúy L chuyển hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Số F B, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng về địa chỉ số B đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng. Sau đó cùng năm 2019 bà Nguyễn Thúy L cùng con gái chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ ông Nguyễn Tất T5 và bà Vũ Thị T6 tại thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Ngày 15/5/2019 bà Nguyễn Thúy L có đơn trình bày về việc bà và con gái chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ và được trưởng thôn xác nhận. Ngày 25/5/2022 ông Nguyễn Tất T5 có đơn xin xác nhận việc ăn ở sinh sống của bà Nguyễn Thúy L tại gia đình và đã được Công an xã H xác nhận ngày 27/5/2022 với nội dung: “Chị Nguyễn Thúy L, sinh năm 1983 và cháu Phạm Hà M, sinh năm 2020 hiện đang sinh sống cư trú tại nhà ông Nguyễn Tất T5”.
Căn cứ hồ sơ tài liệu và kết quả xác minh cho thấy: Thửa đất số 309/7C tờ bản đồ số 01 của hộ gia đình bà Nguyễn Thúy L còn nguyên hiện trạng chưa thực hiện việc bàn giao đất, trên đất có công trình phục vụ việc ăn ở (nhà vệ sinh, nhà kho...) không có công trình nhà ở; hộ gia đình bà L không trực tiếp ăn ở trên thửa đất bị thu hồi.
Về việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với gia đình bà Nguyễn Thúy L: Ngày 11/9/2020 UBND huyện T có thông báo số 632/Tb-UBND về việc thu hồi đất để bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Khu tái định cư thuộc dự án đầu tư xây dựng cải tạo đường 359 đoạn từ Thủy Triều đến đường trục giao thông đô thị và công nghiệp B. Ngày 02/6/2021 UBND huyện T ban hành Quyết định số 2881/QĐ-UBND về việc thu hồi đất trong đó thu hồi 101,8m² đất hộ gia đình bà Nguyễn Thúy L và Quyết định số 2898/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ kèm theo phương án bồi thường số 19/PA-TCT thì hộ gia đình bà Nguyễn Thúy L được bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền 441.843.618 đồng cụ thể: Bồi thường 100% về đất ở: 329.832.000 đồng và bồi thường 100% về vật kiến trúc trên đất (gồm: Nhà kho, nhà vệ sinh, chuồng chó, lát gạch lối đi, chuồng gà) số tiền 112.011.618 đồng.
Ngày 14/6/2021 UBND huyện T có thông báo số 270/TB-UBND về việc
chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình bà Nguyễn Thúy L, nhưng bà Nguyễn Thúy L chưa nhận tiền bồi thường hỗ trợ theo phương án đã được phê duyệt, đối với hạng mục vật kiến trúc còn thiếu (bờ kè đá, chuồng chó) theo kiến nghị của bà Nguyễn Thúy L, ngày 28/8/2022 Trung tâm phát triển quỹ đất huyện T đã phối hợp với UBND xã H và các ban ngành đoàn thể tiến hành kiểm kê, lập phương án bồi thường bổ sung và ngày 29/9/2022 UBND huyện T đã ban hành Quyết định số 14167/QĐ-UBND kèm theo phương án bồi thường bổ sung số 01/PA-TCT cho hộ gia đình bà Nguyễn Thúy L số tiền 68.060.742 đồng (gồm: Bờ kè đá không chít mạch, chuồng chó) theo quy định pháp luật.
Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện T đã thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của hộ gia đình bà Nguyễn Thúy L để thực hiện khu tái định cư thuộc dự án đầu tư xây dựng cải tạo đường 359 đoạn từ Thủy Triều đến đường trục giao thông đô thị và công nghiệp B, là đúng quy định tại Điều 69, khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai năm 2013. Tại thời điểm thu hồi đất bà Nguyễn Thúy L không đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi có đất bị thu hồi, không trực tiếp ở trên thửa đất bị thu hồi, không phải di chuyển chỗ ở khi Nhà nước thu hồi đất nên không đủ điều kiện được bố trí tái định cư theo quy định tại Điều 79, Điều 86 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Theo đó, nội dung khiếu nại của bà Nguyễn Thúy L về việc đề nghị được giao 01 suất tái định cư là không có cơ sở.
Do đó, đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy L.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND và Chủ tịch UBND huyện T trình bày: Thống nhất như người bị kiện trình bày và đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy L
Với nội dung trên tại Bản án hành chính sơ thẩm số 52/2023/HC-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 347, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; căn cứ Điều 18, Điều 21 Luật Khiếu nại; căn cứ điểm d khoản 3 Điều 62, Điều 69, Điều 75, Điều 76, Điều 79, Điều 83 Luật Đất đai; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy L về việc Hủy Quyết định số 3339/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố H về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thúy L (lần 2) và các quyết định hành chính có liên quan gồm: Quyết định số 6114/QĐ-UBND ngày 22/4/2022 của Chủ tịch UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thúy L (lần đầu); Quyết định số 2881/QĐ-UBND ngày 02/6/2021 của UBND huyện T; Quyết định số 2898/QĐ-UBND ngày 02/6/2021 của UBND
huyện T kèm theo phương án bồi thường, hỗ trợ số 19/PA-TCT; Quyết định số 14167/QĐ-UBND ngày 29/9/2022 của UBND huyện T kèm theo phương án bồi thường bổ sung số 01/PA-TCT.
Ngoài ra bản án còn quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/7/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thúy L, với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện. Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Phía người khởi kiện trình bày: Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết không khách quan, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của người khởi kiện; tại thời điểm thu hồi đất bà L không còn nhà ở, nơi ở nào khác trong địa bàn, cũng không có nguyện vọng được nhận bồi thường giá trị quyền sử dụng đất bằng tiền mà mong muốn được bồi thường 01 suất đất tái định cư, nhưng UBND huyện T lại bồi thường bằng tiền, nên bà L không có chỗ ở. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm để chấp nhận đơn khởi kiện của bà L.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của phía người khởi kiện trình bày: Bà Nguyễn Thúy L là chủ thể đủ điều kiện được bồi thường về đất tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Bởi vì, bà L là chủ sử dụng đất hợp pháp, tại thời điểm thu hồi bà không có thửa đất nào khác trong địa bàn xã H, huyện T, đất của bà L đã được cấp GCNQSD đất hợp pháp; được Nhà nước công nhận, trao quyền sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật Đất đai thì bà L không cần có nhà ở, trực tiếp sinh sống trên đất bị thu hồi. Thực tế, bà L có ăn ở, sinh sống với con gái trên thửa đất bị thu hồi, nhưng phương án bồi thường lại cho rằng không có nhà ở trên đất là không đúng. Chủ tịch UBND huyện T và Chủ tịch UBND thành phố H giải quyết khiếu nại không chấp nhận nội dung khiếu nại của bà L là thiếu căn cứ. Bà L là giáo viên và hiện đang nuôi con nhỏ, đất của bố mẹ cũng bị thu hồi hết đang phải đi thuê chỗ ở nên việc không bồi thường về đất cho bà L ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo để sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy L để hủy các quyết định hành chính bị khiếu kiện, đồng thời buộc UBND huyện T phải bồi thường cho bà L một suất đất theo đúng quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính; những người tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của phía người khởi kiện.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tại phiên tòa; Hội đồng xét xử thấy như sau:
- * Về thủ tục tố tụng:
- [1] Về thẩm quyền, thời hiệu khởi kiện: Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là Quyết định số 3339/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố H, về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thúy L (lần 2). Đây là quyết định hành chính cá biệt của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Ngày 05/10/2022 Chủ tịch UBND thành phố H ban hành Quyết định 3339, đến ngày 14/11/2022 bà Nguyễn Thúy L có đơn khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án khởi kiện vụ án hành chính là đang trong thời hạn một năm, là thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn còn, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên, căn cứ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thúy L cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, ngoài yêu cầu hủy Quyết định 3339, thì bà L còn yêu cầu xem xét các quyết định hành chính có liên quan, như Quyết định thu hồi đất, các quyết định phê duyệt phương án bồi thường, quyết định giải quyết khiếu nại (lần 1) của Chủ tịch UBND huyện T; lẽ ra trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm phải xác định đây là các quyết định hành chính bị khởi kiện để thụ lý, xem xét, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định người khởi kiện chỉ khởi kiện Quyết định 3339 là thiếu sót, chưa đúng với yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, mặc dù không xác định đây là các quyết định hành chính bị khởi kiện, nhưng quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xem xét tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết định hành chính có liên quan, là các quyết định, gồm: Quyết định số 6114/QĐ-UBND ngày 22/4/2022 của Chủ tịch UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thúy L (lần đầu); Quyết định số 2881/QĐ-UBND ngày 02/6/2021 của UBND huyện T về việc thu hồi đất; Quyết định số 2898/QĐ-UBND ngày 02/6/2022 của UBND huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 14167/QĐ-UBND ngày 29/9/2022 của UBND huyện T kèm theo phương án bồi thường bổ sung số 01/PA-TCT là đã xem xét đầy đủ, toàn diện vụ án và quyền lợi của các đương sự đã được xem xét, đảm bảo. Do đó, không cần thiết phải giải quyết lại vụ án từ đầu, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cũng cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
- [2] Xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án và sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa: Tòa cấp sơ thẩm xác định tư cách người khởi kiện, người bị kiện đúng quy định của pháp luật, nhưng chưa đầy đủ. Như đã phân tích ở trên thì ngoài Quyết định 3339, người khởi kiện còn yêu cầu xem xét các quyết định hành chính có liên quan; trong đó có quyết định của Chủ tịch và quyết định của UBND huyện T, thành phố Hải Phòng; lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải xác định UBND huyện T và Chủ tịch UBND huyện T là người bị kiện mới đúng, nhưng lại xác định họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, mặc dù không xác định đúng tư cách tham gia tố tụng, nhưng quá trình giải quyết vẫn đưa họ vào tham gia tố tụng là đã đảm bảo quyền của đương sự; quá trình giải quyết cũng không ai khiếu nại, hay kháng cáo liên quan đến nội dung này, cũng như không ảnh hưởng đến bản chất vụ án, nên không cần thiết phải xác định lại. Quá trình giải quyết vụ án, một số đương sự vắng mặt, nhưng đã được triệu tập hợp lệ, hoặc đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; Điều 225 Luật Tố tụng hành chính.
- * Về nội dung: Xét kháng cáo của người khởi kiện thấy rằng:
- [3] Về nguồn gốc sử dụng đất: Theo sổ mục kê năm 1978 thửa đất số 309 tờ bản đồ số 01 diện tích 576,0m² có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn T3 (là bố đẻ ông Nguyễn Tất T5); ngày 31/12/2009 ông Nguyễn Tất T5 và vợ là bà Vũ Thị T6 (bố mẹ đẻ của bà Nguyễn Thúy L) được UBND huyện T cấp GCNQSD đất thửa đất số 309-7, tờ bản đồ số 01 diện tích 549,0m². Đến năm 2019 ông T5 và bà T6 được UBND huyện T cấp GCNQSD đất thửa số 309-7 tờ bản đồ số 01 diện tích 650,0m² (tăng 101,0m² đất so với GCNQSD đất năm 2009). Năm 2019 ông Nguyễn Tất T5 và vợ là bà Vũ Thị T6 làm thủ tục tặng cho con gái là bà Nguyễn Thúy L diện tích 101,8m² đất, ngày 30/12/2019 bà Nguyễn Thúy L được UBND huyện T cấp GCNQSD đất số CU 586534 đối với thửa đất số 309/7C tờ bản đồ số 01 diện tích 101,8m² mục đích sử dụng là đất ở nguồn gốc sử dụng là được tặng cho đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền. Trong quá trình kiểm kê, Ủy ban nhân dân huyện T và tổ giải phóng mặt bằng đã xác định thửa đất số 309/7C tờ bản đồ số 01 của hộ gia đình bà Nguyễn Thúy L còn nguyên hiện trạng chưa thực hiện việc bàn giao đất, trên đất có công trình phục vụ việc ăn ở (nhà vệ sinh, nhà kho...); nhưng không có công trình nhà ở và bà Nguyễn Thúy L không trực tiếp sinh sống trên thửa đất này.
- [4] Về quá trình sinh sống và sử dụng đất của bà Nguyễn Thúy L: Sau khi lấy chồng từ năm 2011 đến 2015 bà Nguyễn Thúy L sống ở phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, đến năm 2016 bà ly hôn chồng và về sống với bố mẹ. Cuối năm 2019 bà kết hôn với ông Phạm K và chuyển hộ khẩu từ phường T, quận H, thành phố Hải Phòng về đăng ký hộ khẩu thường trú tại phố Đ, quận N, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, do nhà chồng chật hẹp không đảm bảo điều kiện sinh sống đồng thời vợ chồng ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, sống ly thân nhau nên bà lại trở về nhà bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Tất T5 và bà Vũ Thị T6 tại thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng sinh sống nhưng không chuyển khẩu về
- cùng bố mẹ. Ngày 15/5/2019 bà Nguyễn Thúy L có đơn trình bày về việc bà và con gái chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ và được trưởng thôn xác nhận. Ngày 25/5/2022 ông Nguyễn Tất T5 có đơn xin xác nhận việc ăn ở sinh sống của bà Nguyễn Thúy L tại gia đình và đã được Công an xã H xác nhận ngày 27/5/2022 có nội dung: “Chị Nguyễn Thúy L, sinh năm 1983 và cháu Phạm Hà M, sinh năm 2020 hiện đang sinh sống cư trú tại nhà ông Nguyễn Tất T5”. Do đó, có đủ căn cứ xác định tại thời điểm thu hồi đất bà Nguyễn Thúy L không đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi có đất bị thu hồi, không trực tiếp ở trên thửa đất bị thu hồi, không có nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất bị thu hồi và không phải di chuyển chỗ ở khi Nhà nước thu hồi đất, nên không đủ điều kiện để được bồi thường bằng quyền sử dụng đất, hoặc bố trí tái định cư. Vì vậy, UBND huyện T khi thu hồi đất không bồi thường về đất và nhà tái định cư hoặc bố trí tái định cư là đúng quy định tại Điều 79, Điều 86 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
- [6] Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất và các quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, thấy: Để thực hiện việc thu hồi đất, UBND huyện T đã ban hành kế hoạch về thu hồi đất, thông báo về thu hồi đất, đồng thời ban hành quyết định về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để thực hiện dự án và tiến hành họp để thông báo chủ trương thu hồi đất; tiến hành kiểm kê tài sản, xác định nguồn gốc sử dụng đất; sau khi thực hiện đầy đủ các bước trình tự theo đúng quy định; ngày 02/6/2021 UBND huyện T đã ban hành Quyết định số 2881/QĐ-UBND về việc thu hồi đất; đồng thời cùng ngày ban hành Quyết định số 2898/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, sau khi xem xét lại thấy một số tài sản chưa được bồi thường, nên ngày 29/9/2022 UBND huyện T ban hành Quyết định số 14167/QĐ-UBND kèm theo phương án bồi thường bổ sung số 01/PA-TCT. Theo đó, gia đình bà L được bồi thường 100% giá trị về đất và 100% giá trị về tài sản; tổng số tiền gia đình bà L được bồi thường là 509.904.360 đồng là đúng quy định tại Điều 66, Điều 67, Điều 68, Điều 69, Điều 71 Luật Đất đai, Nghị định của Chính phủ và các quy định của UBND thành phố H.
- [7] Đối với Quyết định số 6114/QĐ-UBND ngày 22/4/2022 của Chủ tịch UBND huyện T, thấy: Không đồng ý với nội dung quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất, bà Nguyễn Thúy L đã có đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND huyện T; sau khi nhận được đơn khiếu nại, Chủ tịch UBND huyện T đã tiến hành xác minh nội dung khiếu nại, tiến hành tổ chức đối thoại với người khiếu nại; căn cứ kết quả xác minh, như đã phân tích ở trên thì việc khiếu nại của bà L không có căn cứ, nên Chủ tịch UBND huyện T đã ban hành Quyết định số 6114/QĐ-UBND ngày 22/4/2022. Theo đó, không chấp nhận nội dung khiếu nại của bà L là có căn cứ, đúng quy định tại Luật khiếu nại.
- [8] Đối với Quyết định số 3339/QĐ-UBND ngày 05/10/2022, thấy: Như đã phân tích ở trên thì việc UBND và Chủ tịch UBND huyện T ban hành các Quyết
- định hành chính là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; không đồng ý với các quyết định này, bà L đã có đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND thành phố H; Chủ tịch UBND thành phố H đã quyết định giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại, ban hành quyết định xác minh nội dung khiếu nại; đồng thời tiến hành đối thoại đối với người khiếu nại; căn cứ vào Báo cáo của Tổ công tác liên ngành, Chủ tịch UBND thành phố H đã ban hành Quyết định số 3339/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại Điều 21, Điều 36 đến Điều 41 Luật Khiếu nại và Điều 204 Luật Đất đai năm 2013. Về nội dung, như đã phân tích ở trên thì việc UBND huyện T thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đúng quy định, nên Chủ tịch UBND thành phố H đã không chấp nhận nội dung khiếu nại của người khiếu nại là có căn cứ.
Tổng hợp các phân tích trên thấy rằng, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, đã giải quyết vụ án đảm bảo đúng, đầy đủ quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự, bà Nguyễn Thúy L kháng cáo nhưng không có thêm tài liệu gì mới làm căn cứ, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà L; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ.
[9] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241, Luật Tố tụng hành chính.
Bác kháng cáo của người khởi kiện là bà Nguyễn Thúy L; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 52/2023/HC-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về án phí: Bà Nguyễn Thúy L phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000062, ngày 13/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Xác nhận bà L đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Duy Nhiệm |
Bản án số 805/2023/HC-PT ngày 08/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khởi kiện quyết định hành chính
- Số bản án: 805/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khởi kiện quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Khởi kiện quyết định hành chính”
