Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 804/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28/11/2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.

Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuân Phương

2. Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Phi Nga - Thư ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 717/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1978; Đăng ký thường trú: Số B ngõ A V, phường L, quận H, TP .. (Có mặt tại phiên tòa)

- Bị đơn: Bà Hoàng Thị Phương T, sinh năm 1983; Đăng ký nhân khẩu thường trú: Số B ngõ A V, phường L, quận H, TP .. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H, Số giam 5433E2/ buồng giam M3. (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2024 và tại các văn bản tố tụng tiếp theo nguyên đơn ông Nguyễn Đình H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Hoàng Thị Phương T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, TP . vào ngày 18/11/2004. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hòa thuận đến ngày 06/9/2012, ông vi phạm pháp luật và bị Tòa án xét xử 20 năm tù giam. Khi ông đi chấp hành án phạt tù bà T đã đưa 02 con chung về sinh sống với bố mẹ đẻ của ông, còn bà T không quan tâm, thăm nuôi ông dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, phai nhạt dần, mâu thuẫn bắt đầu phát sinh từ đó cho đến nay. Đến tháng 8 năm 2024, ông được ra tù về địa phương tại số B ngõ A V, phường L, quận H, TP . sinh sống, vợ chồng cũng không cải thiện được tình cảm. Đến ngày 18/10/2024, bà T bị bắt thi hành án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, hiện nay đang bị tạm giam tại Trại giam S - Công an thành phố H; do vậy, tình cảm vợ chồng không còn. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Hoàng Thị Phương T nhằm giải phóng cho nhau.

Về con chung: Ông xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hương G, sinh ngày 03/7/2006 và Nguyễn Hoàng Đức H1, sinh năm 09/5/2008. Ly hôn ông đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Hoàng Đức H1, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung Nguyễn Hương G đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, nhà ở chung, công nợ: Ông xác nhận vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Hoàng Thị Phương T trình bày: Bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Đình H2 vào năm 2004 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, TP . vào ngày 18/11/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận tại số B ngõ A V, phường L, quận H, TP .. Đến năm 2012 bà và ông H vi phạm pháp luật, ông H bị xử phạt 20 năm tù, còn bà bị xử phạt 13 năm tù; sau đó ông H đi chấp hành án phạt tù tại Trại giam V, còn bà được hoãn thi hành án cho đến tháng 8 năm 2024 ông H được ra tù. Từ khi ông H đi chấp hành án phạt tù vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hiểu lầm lẫn nhau, bà xích mích với gia đình nhà chồng. Thời gian đầu bà có đi thăm nuôi ông H và lo về kinh tế cho chồng và các con học hành, đến năm 2019 do kinh tế khó khăn nên bà không đi thăm nuôi ông H được nữa. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn và không quan tâm đến nhau nữa, đến ngày 15/10/2024 bà bị bắt đi chấp hành án phạt tù và đang bị tạm giam tại Trại giam S1 Công an thành phố H. Ông H xin ly hôn bà đồng ý ly hôn.

Về con chung: Bà xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hương G, sinh ngày 03/7/2006; Nguyễn Hoàng Đức H1, sinh năm 09/5/2008. Ly hôn bà đồng ý để ông H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà xin tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nhà đất ở chung bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, ông H vẫn giữ nguyên các lời khai đã khai trước đây, xác định vợ chồng không còn tình cảm, không có hạnh phúc, không thể hàn gắn được nữa, ông kiên quyết xin được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống. Về con chung bà xin được nuôi con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nhà đất ở, công sức đóng góp và nợ chung: Ông H xác nhận vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà là đã tuân theo pháp luật, không vi phạm tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn hiện đang đi chấp hành án, đã có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như xin vắng mặt tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Giao con chung cho ông H nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho bà T cho đến khi có sự thay đổi. Bà T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung, nhà ở, công sức đóng góp, nợ chung các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Ông H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Ngày 28 tháng 10 năm 2024, bà Hoàng Thị Phương T đã có bản tự khai và có đơn đề nghị vắng mặt trong quá trình tố tụng, do vậy Toà án không tiến hành hoà giải được, bị đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Hoàng Thị Phương T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Nguyễn Đình H và bà Hoàng Thị Phương T là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, Thành phố Hà Nội ngày 18/11/2004 số 94 Quyển số 01 là phù hợp pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp. Về tình cảm vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn: Ông H xác nhận vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cả hai vợ chồng vi phạm pháp luật bị Tòa án xử phạt tù, trong thời gian chấp hành án phạt tù bà T không quan tâm đến chồng con, để cả hai con cho bố mẹ ông nuôi dưỡng nên tình cảm vợ chồng nhạt phai, đến nay ông xác định không còn tình cảm nên đề nghị được ly hôn nhằm giải phóng cho nhau và sớm ổn định cuộc sống. Bà T cũng xác nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2012 nguyên nhân do hiểu lầm nhau, xích mích với gia đình nhà chồng. Thời gian đầu bà có đi thăm nuôi ông H và lo kinh tế cho chồng và các con học hành, đến năm 2019 do kinh tế khó khăn nên bà không đi thăm nuôi ông H được nữa. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà xảy ra nguyên nhân là do cả hai vợ chồng vi phạm pháp luật, cuộc sống vợ chồng mỗi người một nơi nên vợ chồng không có hạnh phúc, hai bên không quan tâm gì đến nhau, ông H xin ly hôn thì bà T đồng ý. Do đó, xét vợ chồng ông bà không thể tiếp tục chung sống lâu dài với nhau được nữa, cả hai đều nhất trí ly hôn; vì vậy yêu cầu xin ly hôn của ông H là có căn cứ nên được chấp nhận và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Ông bà xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hương G, sinh ngày 03/7/2006 và Nguyễn Hoàng Đức H1, sinh năm 09/5/2008. Ly hôn giao con chung Nguyễn Hoàng Đức H1 cho ông H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác, con chung Nguyễn Hương G đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có sự thay đổi khác. Bà T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4]. Về tài sản chung, nhà đất ở, công sức đóng góp và nợ chung: Ông bà xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[5]. Về án phí: Ông H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Đình H đối với bà Hoàng Thị Phương T. Ông Nguyễn Đình H được ly hôn bà Hoàng Thị Phương T.
  2. Về con chung: Xác nhận ông bà có 02 con chung là Nguyễn Hương G, sinh ngày 03/7/2006 và Nguyễn Hoàng Đức H1, sinh năm 09/5/2008. Ly hôn giao con chung Nguyễn Hoàng Đức H1 cho ông H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác, con chung Nguyễn Hương G đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho bà T đến khi có sự thay đổi khác. Bà T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nhà ở, công sức đóng góp và nợ chung: Ông bà xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Ông Nguyễn Đình H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ông đã nộp theo biên lai thu tiền số 0024382 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
  5. Án xử công khai, sơ thẩm. Ông H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 804/2024/HNGĐ-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 804/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger