Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 804/2024/ HNGĐ-ST

Ngày: 05-9-2024

V/v: Ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Trọng Hiền
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Đông;
  • Bà Nguyễn Thị Vân
  • - Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Lệ - CBTA.
  • - Đại diện VKSND TP Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thuận – Kiểm Sát Viên.

Trong ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn – tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 507/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23/7/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1979

Địa chỉ: C N, P. G, TP ., tỉnh Bình Định

* Bị đơn: Anh Hoàng Xuân B, sinh năm 1978

Địa chỉ: C N, P. G, TP ., tỉnh Bình Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày: Chị và anh B tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 2003, đăng ký kết hôn tại UBND phường G, TP .. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến 2009 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh B ăn chơi, nợ nần, chửi bới, đánh đập chị, chị nhiều lần khuyên nhưng anh B không thay đổi nên mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn, tuy sống chung nhà nhưng vợ chồng đã ly thân, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh B để ổn định cuộc sống.

Vợ chồng có 01 con chung tên: Hoàng Thị Thu H1, sinh năm 2004, hiện nay trên 18 tuổi, sức khoẻ bình thường nên chị không yêu cầu gì.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Hiện nay chị và anh B không có nợ chung.

Tại bản khai ngày 28/6/2024 bị đơn anh Hoàng Xuân B trình bày: Anh và chị H kết hôn với nhau năm 2003, đăng ký kết hôn tại UBND phường G, TP .. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến 2009 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng có lời qua tiếng lại, chị H bỏ nhà đi, vợ chồng sống ly thân 04 năm đến năm 2013 quay lại sống chung với nhau, từ đó đến nay vợ chồng cũng bất đồng quan điểm, có lời qua tiếng lại nhưng không có gì lớn . Nay chị H xin ly hôn anh không đồng ý.

Vợ chồng có 01 con chung tên: Hoàng Thị Thu H1, sinh năm 2004, hiện nay trên 18 tuổi, sức khoẻ bình thường nên anh không yêu cầu gì.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Hiện nay anh và chị H không có nợ chung.

Tại phiên toà hôm nay anh B vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu việc tuân theo quy định pháp luật tố tụng Dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử.
  • - Tại phiên Toà HĐXX, Thư ký thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh B.
  • - Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị H phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ-ST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn anh Hoàng Xuân B vắng mặt lần thứ hai không có lý do; Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 238 BLTTDS Toà tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Ly hôn; Bị đơn đang cư trú tại C N, P. G, TP ., tỉnh Bình Định nên xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn theo quy định quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51, 56, 81.82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình

[3] Về nội dung tranh chấp: Chị H và anh B tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 2003, đăng ký kết hôn tại UBND phường G, TP .. Chị H khai: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến 2009 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh B ăn chơi, nợ nần, chửi bới, đánh đập chị , chị đã nhiều lần khuyên nhưng anh B không thay đổi nên mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn, tuy sống chung nhà nhưng vợ chồng đã ly thân, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh B để ổn định cuộc sống; Anh B thì cho rằng: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến 2009 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng có lời qua tiếng lại, chị H bỏ nhà đi, vợ chồng sống ly thân 04 năm đến năm 2013 quay lại sống chung với nhau từ đó đến nay vợ chồng cũng bất đồng quan điểm, có lời qua tiếng lại nhưng không có gì lớn . Nay chị H xin ly hôn anh không đồng ý.

Theo Biên bản xác minh ngày 23/7/2024 tại địa phương cung cấp: Chị H và anh B sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại C N, P. G, TP ., tỉnh Bình Định, trong thời gian chung sống vợ chồng có mâu thuẫn như thế nào địa phương không biết, vì khi mâu thuẫn không có báo chính quyền địa phương; Chị H và anh B có 01 con chung hiện nay trên 18 tuổi, sức khoẻ bình thường.

HĐXX xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị H và anh anh B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên HĐXX chấp nhận đơn của chị H xin ly hôn anh B.

Trong quaù trình chung soáng chị H và anh B có 01 con chung tên: Hoàng Thị Thu H1, sinh năm 2004 hiện nay trên 18 tuổi, sức khoẻ bình thường nên chị H và anh B không yêu cầu gì, HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T1.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kim H ly hôn anh Hoàng Xuân B.
  2. Về con chung: Chị H và anh B có 01 con chung tên: Hoàng Thị Thu H1, sinh năm 2004 hiện nay trên 18 tuổi, sức khoẻ bình thường, chị H không yêu cầu gì, HĐXX không xem xét.
  3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, HĐXX không xem xét.
  4. Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001108 ngày 17/6/2024 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị H đã nộp đủ án phí.

Chị H và anh B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luất

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Quy Nhơn;
  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - Đương sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thân Trọng Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 804/2024/ HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 804/2024/ HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger