Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 804 /2025/DS-PT

Ngày: 27-11-2025

“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh;
Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt;
Ông Đinh Chí Tâm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Phan Thị Thanh Mến - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 493/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 261/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 528/2025/QĐ-PT, ngày 27 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 217/2025/QĐ-PT ngày 13/11/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Thu N, sinh năm 1990.

ĐKTT: 484, Hậu Giang, phường P, TP Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: 287, A, phường A, TP Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Phùng Thị Thu N chị Phạm Thị Thanh N1, sinh năm 2000.

Địa chỉ: số H, đường S, Khu đô thị L, Phường B, Thành phố Hồ Chí Minh;

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1990.

Địa chỉ: B, ấp L, phường Đ, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thúy A là chị Lê Thụy Cẩm T, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp B, xã A, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị A là Luật sư Dương Mỹ L – Văn phòng L1 chi nhánh M1.

- Người kháng cáo: Bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1990.

Địa chỉ: B, ấp L, phường Đ, tỉnh Đồng Tháp.

(Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bị đơn đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm chị Phùng Thị Thu N có Đại diện theo ủy quyền của chị N trình bày:

Chị Phùng Thị Thu N và chị Nguyễn Thị Thúy A là chỗ thân tình bạn với nhau từ nhỏ, ngoài quan hệ lối xóm bạn bè thì hoàn cảnh của chị A cũng đang gặp nhiều khó khăn. Trong thời gian từ tháng 07/2019 đến tháng 03/2022, chị A đã nhiều lần liên hệ chị vay tiền, cụ thể như sau:

  • Ngày 22/07/2019, chị A có liên hệ vay chị vay số tiền là 60.000.000 đồng, số tiền này được chị chuyển từ tài khoản cá nhân tại Ngân hàng B cho chị A.
  • Ngày 30/08/2019, chị A liên hệ chị để vay số tiền là 30.000.000 đồng. Số tiền này được chị chuyển từ Ngân hàng B và Ngân hàng V1 cho chị A như sau: Chuyển từ Ngân hàng B số tiền là 11.500.000 đồng và chuyển từ Ngân hàng V1 số tiền là 18.500.000 đồng.
  • Ngày 25/11/2019, chị A liên hệ để vay chị số tiền là 10.000.000 đồng, số tiền này được chị chuyển từ tài khoản cá nhân tại Ngân hàng B cho chị A.
  • Ngày 11/12/2019, chị A liên hệ vay chị số tiền là 20.000.000 đồng. Số tiền này được chị chuyển từ Ngân hàng B và Ngân hàng V1 cho chị A như sau: Chuyển từ Ngân hàng B số tiền là 5.000.000 đồng và chuyển từ Ngân hàng V1 số tiền là 15.000.000 đồng.
  • Ngày 25/03/2020, chị A liên hệ vay chị số tiền 10.000.000 đồng, số tiền này được chị chuyển khoản từ tài khoản B cho chị A.
  • Ngày 06/06/2020, chị A liên hệ vay chị 1.000 đô la Mỹ, số tiền này được chị đưa trực tiếp cho chị A (có video kèm theo).
  • Ngày 26/06/2020, chị A liên hệ vay chị 200 đô la Mỹ, số tiền này chị đổi thành tiền Việt Nam đồng và chuyển cho chị A.
  • Ngày 18/07/2020, chị A liên hệ vay chị 10.000.000 đồng, số tiền này được chị chuyển khoản từ tài khoản B cho chị A.
  • Ngày 20/11/2020, chị A liên hệ vay chị 7.000.000 đồng, số tiền này được chị chuyển khoản từ tài khoản B cho chị A.
  • Ngày 30/01/2021, chị A liên hệ vay chị 10.000.000 đồng, số tiền này được chị chuyển khoản từ tài khoản VIB cho chị A.
  • Ngày 15/03/2021, chị A liên hệ vay chị 5.000.000 đồng, số tiền này được chị chuyển khoản từ tài khoản VIB cho chị A.

Tất cả những lần chị Nguyễn Thị Thúy A liên hệ vay tiền nêu trên đều được chị chuyển khoản vào tài khoản của cá nhân chị A với thông tin như sau: Chủ tài khoản Nguyễn Thị Thúy A, S tài khoản 19027258165012 tại Ngân hàng T1.

Đến khoảng tháng 06/2022, chị N nhiều lần yêu cầu chị A trả số tiền đã vay nhưng chị A cứ khất lần, trì hoãn trả số tiền đã mượn chị. Đến tháng 08/2022, chị N tiếp tục liên lạc với chị A qua điện thoại nhưng không được, chị tìm đến gia đình chị A để yêu cầu gia đình liên lạc với chị A nhưng cũng không được. Gia đình chị A cho biết chị A đã rời khỏi thành phố M. Đến nay, tổng số tiền mà chị A còn nợ chị là 162.000.000 đồng và 1.200 đô la Mỹ. Chị Phùng Thị Thu N yêu cầu chị Nguyễn Thị Thúy A phải trả lại cho chị số tiền gốc còn nợ là 162.000.000 đồng và 1,200 đô la Mỹ. Chị N yêu cầu chị A phải trả tiền lãi đối với số tiền 162.000.000 đồng theo mức suất 20%/năm tính từ ngày 01/8/2022 cho đến ngày xét xử. Trả 01 lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại Biên bản hòa giải ngày 26/02/2024, Đại diện theo ủy quyền của chị Phùng Thị Thu N trình bày: Chị Phùng Thị Thu N và chị Nguyễn Thị Thúy A có mối quan hệ bạn bè lâu năm có sự tin tưởng nên chị N đã cho chị A vay tiền nhiều lần. Từ tháng 07/2019 cho đến năm 2022, chị N đã nhiều lần chuyển khoản cho chị A nhận với tổng số tiền vốn vay là 197.000.000 đồng. Đồng thời, chị N có cho chị A mượn tổng cộng là 2.200 đô la Mỹ. Chị A có trả nhiều lần số tiền vốn là 35.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản và có trả cho chị N được 1.000 đô la Mỹ. Hiện nay, chị A còn nợ lại số tiền vốn gốc là 162.000.000 đồng và 1.200 đô la Mỹ. Lãi suất thỏa thuận giữa hai bên là 3%/tháng nhưng chị A chỉ đóng được vài tháng đầu thì ngưng không đóng lãi cho chị N nữa. Số tiền chị N cho chị A vay nhiều lần nhiều khoản tiền thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản của chị A, có khoản tiền vay thì chị A đã trả cho chị N rồi, có khoản tiền thì chị A không có trả nên số tiền gốc còn nợ lại là 162.000.000 đồng – Số tiền này chị N chuyển khoản nhiều lần vào tài khoản của chị A. Đến thời điểm hiện nay, chị A còn nợ chị N tổng số tiền vay vốn gốc là 162.000.000 đồng và 1.200 đôla M (quy ra tiền Việt tại thời điểm hiện nay là 25.000 đồng/USD x 1.200 USD là 30.000.000 đồng).

Nay chị Phùng Thị Thu N nguyên yêu cầu chị Nguyễn Thị Thúy A phải trả cho chị N số tiền nợ gốc là 162.000.000 đồng và 1.200 đôla M quy ra tiền Việt tại thời điểm hiện nay là 30.000.000 đồng. Chị N yêu cầu tính lãi đối với số tiền vốn gốc 162.000.000 đồng theo mức lãi suất 20%/năm (1,66%/tháng) tính từ ngày 01/8/2022 cho đến ngày xét xử. Trả 01 lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện theo ủy quyền của chị Phùng Thị Thu N trình bày: Yêu cầu chị Nguyễn Thị Thúy A phải trả cho chị N số tiền nợ gốc là 162.000.000 đồng và 1.200 đôla M quy ra tiền Việt tại thời điểm hiện nay là 30.000.000 đồng. Yêu cầu tính lãi đối với số tiền vốn gốc 162.000.000 đồng theo mức lãi suất 20%/năm (1,66%/tháng) tính từ ngày 01/8/2022 cho đến ngày xét xử. Đối với số tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật là 13.013.493 đồng, phía chị N đồng ý trừ vào số tiền nợ gốc mà chị A còn nợ. Trả 01 lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

* Tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy A có Đại diện theo ủy quyền chị Lê Thụy Cẩm T trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thúy A và chị Phùng Thị Thu N là chỗ bạn bè thân thiết nhiều năm, trong khoản thời gian từ năm 2019 đến năm 2021, chị A có hỏi mượn tiền của chị N để trang trải cho cuộc sống do kinh tế khó khăn, phải nuôi con nhỏ. Mượn tiền không thỏa thuận lãi suất (do là bạn bè thân thiết) mà chỉ thỏa thuận khi nào có tiền sẽ trả dần cho chị N. Chị N có chuyển khoản cho chị tổng số tiền là 162.000.000 đồng thông qua số tài khoản 1902785165012 mở tại Ngân hàng T2 (T1) mang tên NguyenThiThuyAn và giao 1.000 đô la Mỹ tiền mặt, thỏa thuận tiền đô la Mỹ khi chị A thanh toán nợ sẽ quy đổi sang tiền V với số tiền là 23.000.000 đồng. Do đó, tổng số tiền chị A mượn của chị N là 185.000.000 đồng.

Quá trình mượn tiền, chị A đã thanh toán nhiều lần tiền cho chị N thông qua hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 14710000139967 mở tại Ngân hàng TMCP Đ (B) mang tên PhungThiThuNguyet; số tài khoản 601704060267921 mở tại Ngân hàng Q (V1) mang tên PhungThiThuNguyet; số tài khoản 009079999 mở tại Ngân hàng Q (V1) mang tên PhungThiThuNguyet. Cụ thể:

  • Tài khoản 14710000139967 mở tại Ngân hàng TMCP Đ (B) đã chuyển trả với số tiền 82.915.000 đồng (19 lần).
  • Tài khoản 601704060267921 mở tại Ngân hàng Q (V1) đã chuyển trả với số tiền 38.525.000 đồng (10 lần).
  • Tài khoản 009079999 mở tại Ngân hàng Q (V1) đã chuyển trả với số tiền 130.156.000 đồng (31 lần).

Theo đó, tổng số tiền chị A đã chuyển trả cho chị N theo 03 tài khoản nêu trên là 251.596.000 đồng đã vượt quá số tiền chị N đã cho chị mượn.

Tại Biên bản hòa giải ngày 26/02/2024, Đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thúy A trình bày: Chị A thừa nhận có nợ chị N tổng số tiền là 162.000.000 đồng và thừa nhận có mượn của chị N 1.000 đô la M quy sang tiền V là 23.000.000 đồng. Hai bên không có thỏa thuận lãi suất mà chỉ mượn tiền. Trong quá trình mượn tiền từ năm 2019 cho đến năm 2022 thì chị A đã trả cho chị N bằng hình thức chuyển khoản vào 03 tài khoản của chị Phùng Thị Thu N tại Ngân hàng như đã nêu trên. Tổng số tiền chị A đã trả chuyển khoản cho chị N là 251.596.000 đồng. Hiện nay, chị A không còn nợ chị N khoản tiền nào nữa.

Tại phiên tòa, Đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thúy A trình bày: Các bên không lập hợp đồng vay, không thỏa thuận lãi suất vay cũng như thời hạn vay. Theo đó phía nguyên đơn có chuyển khoản nhiều lần tiền cho phía bị đơn với số tiền chuyển khoản là 162.000.000 đồng và có giao cho bị đơn 1.000 USD (thời điểm mượn quy đổi ra tiền Việt là 23.000.000 đồng). Như vậy tổng cộng số tiền mà bị đơn mượn của nguyên đơn là 185.000.000 đồng. Sau khi mượn tiền thì bị đơn có thanh toán lại cho phía nguyên đơn số tiền nợ trên bằng hình thức chuyển khoản, bị đơn có cung cấp được lịch sử sao kê tài khoản ngân hàng về việc chuyển tiền cho phía nguyên đơn từ thời điểm tháng 08/2019 đến tháng 07/2022 với số tiền tổng cộng là 237.671.000 đồng. Việc nguyên đơn cho rằng đây là số tiền lãi mà bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn với mức lãi suất 3%/tháng là không phù hợp do giữa nguyên đơn và bị đơn không có thỏa thuận thời hạn vay, hay lãi suất vay. Đồng thời số tiền mà bị đơn chuyển khoản hàng tháng không giống nhau và không trong cùng một thời điểm cố định mà việc có lãi suất chỉ là lời khai của phía nguyên đơn không được bị đơn thừa nhận. Mặt khác tại Đơn khởi kiện ngày 05/10/2023 nguyên đơn chỉ trình bày trong nội dung đơn khởi kiện là có cho bị đơn vay nhiều lần tiền nhưng không trình bày gì về việc vay có thỏa thuận lãi suất hay thời hạn vay.

Đối với yêu cầu tính lãi suất 1,66% của số tiền 162.000.000 đồng tính từ ngày 01/08/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là không phù hợp với quy định pháp luật đối với yêu cầu tính lãi do các bên không có thỏa thuận lãi suất vay, đồng thời phía bị đơn đã thanh toán xong số tiền nêu trên. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị Thu N. Buộc chị Nguyễn Thị Thúy A phải thực hiện nghĩa vụ trả cho chị Phùng Thị Thu N số tiền 102.422.800 đồng (Một trăm lẻ hai triệu bốn trăm hai mươi hai ngàn tám trăm đồng).
  2. Tuyên bố giao dịch bằng ngoại tệ được xác lập giữa chị Phùng Thị Thu N và chị Nguyễn Thị Thúy A là giao dịch dân sự vô hiệu. Buộc chị Nguyễn Thị Thúy A có nghĩa vụ trả cho chị Phùng Thị Thu N số tiền là 24.118.000 đồng (sau khi quy đổi 1.000 đô la Mỹ theo tỷ giá do Ngân hàng N2 công bố vào thời điểm xét xử).

Buộc chị Nguyễn Thị Thúy A có trách nhiệm trả cho chị Phùng Thị Thu N số tiền 4.600.000 đồng.

Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 65/2023/QĐ – BPKCTT ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và tuyên về quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: chị A có yêu cầu kháng cáo đối với 1 phần bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • Bị đơn là chị A không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên kháng cáo đối với một phần quyết định của bản án sơ thẩm.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị A, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị N, xác định số tiền vốn gốc còn lại là 36.204.000đ và tính lãi đối với số vốn gốc này theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Phùng Thị Thu N yêu cầu bị đơn là chị Nguyễn Thị Thúy A trả nợ gốc và lãi đối với số tiền mà chị N đã cho chị A vay nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản” là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Sau khi xét xử sơ thẩm, phía bị đơn là chị A không đồng ý với một phần quyết định bản án sơ thẩm nên có kháng cáo, Tòa án tỉnh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm, phù hợp với quy định tại Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.

  1. Về nội dung:

Xét yêu cầu kháng cáo của chị A về việc không đồng ý thanh toán cho chị N số tiền 102.422.800 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Qua ý kiến trình bày và qua quá trình xét xử sơ thẩm: có căn cứ để xác định được các vấn đề sau:

Số tiền mà chị N đã chuyển khoản cho chị A là 162.000.000đ; (Được hai bên đều thừa nhận);

Số tiền mà chị A đã chuyển khoản cho chị N là: 214.317.000đ; trong đó, số tiền chuyển khoản không ghi nội dung chuyển trả lãi là: 125.796.000đ; còn số tiền chuyển khoản có ghi nội dung chuyển trả lãi là: 88.521.000đ. (Đây là số tiền được xác định theo bản án sơ thẩm nhưng chị N, chị A đều không có kháng cáo về số tiền).

Đối với số tiền 24.118.000đ được quy đổi của 1.000 đô la Mỹ (theo tỷ giá do Ngân hàng N2 công bố vào thời điểm xét xử) là số tiền mà chị A phải trả cho chị N. (Nội dung này được xác định theo quyết định của bản án sơ thẩm chị A không có kháng cáo nội dung này).

Đối với số tiền 4.600.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thúy A có trách nhiệm trả cho chị Phùng Thị Thu N. (Theo quyết định của bản án sơ thẩm chị A cũng không có kháng cáo nội dung này).

Sau khi xét xử sơ thẩm, chị N không có kháng cáo; còn chị A thì kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại đối với số tiền vốn, số tiền lãi mà chị A đã chuyển cho chị N.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến trình bày của các bên thì tại phiên toà sơ thẩm chị A cho rằng toàn bộ số tiền mà chị A chuyển khoản cho chị N là tiền gốc; còn tại phiên toà phúc thẩm thì bên chị A lại cho rằng số tiền mà chị A chuyển khoản cho chị N là toàn bộ phần tiền lãi và yêu cầu Hội đồng xét xử tính lại phần tiền lãi của từng khoản vay theo quy định nếu dư thì trừ vào số tiền vốn gốc của chị N đối với tất cả quá trình hai bên chuyển khoản để cấn trừ vào từng số tiền mà chị N chuyển khoản cho chị A vay.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc chị A yêu cầu tính lại đối với từng khoản tiền mà hai bên đã chuyển khoản để xác định số tiền vốn, số tiền lãi nhưng chị A không xác định được cụ thể phần nào là chuyển khoản trả lãi cho khoản vay nào? Đồng thời, khi xem xét lại quá trình giao dịch giữa chị N và chị A (thông qua tin nhắn zalo của hai bên) thì có những khoản vay mà chị A thoả thuận với chị N với mức lãi suất 5%/tháng, có khoản vay thoả thuận lãi suất 3%/tháng; nội dung 02 bên chuyển khoản cho nhau không rõ ràng; Ngoài ra, trong đó còn có những khoản tiền mua hàng hoá của chị A. Từ đó, cho thấy việc thoả thuận vay và lãi suất vay là sự tự nguyện của hai bên trong quá trình giao dịch, nay phát sinh tranh chấp chị A yêu cầu tính lại đối với từng khoản tiền để trừ vào vốn gốc mà chị N đã chuyển khoản là chưa hoàn toàn phù hợp. Bên cạnh đó, tất cả các khoản tiền chuyển khoản mà chị A cung cấp để chứng minh cho lời trình bày của chị A là của Ngân hàng V1 thì không thể hiện số tài khoản thụ hưởng là của chị N nhưng chị N không có kháng cáo, đồng nghĩa với việc chị N thừa nhận có nhận số tiền chuyển khoản như chị A đã trình bày.

Toà sơ thẩm xác định số tiền vốn gốc, số tiền lãi mà chị A chuyển khoản để cấn trừ vào số tiền lãi của từng khoản vay mà chị N đã chuyển khoản cho chị A. Hội đồng xét xử xét thấy chưa phù hợp nên cần điều chỉnh lại cho phù hợp. Bởi vì, căn cứ vào đơn khởi kiện của chị N (tại bút lục số 49) thì chị N yêu cầu tính lãi từ ngày 01/8/2022 đến ngày 30/9/2023. Vì vậy, nhằm để đảm bảo quyền lợi của các bên, sau khi xác định số tiền vốn gốc còn lại khi đã cấn trừ số tiền mà chị A đã chuyển trả thì phần vốn gốc còn lại sẽ tính lãi theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Như vậy, số tiền vốn gốc sau cấn trừ thì vốn gốc chị A còn nợ lại chị N là: 36.204.000₫;

Tiền lãi sẽ được tính từ ngày 01/8/2022 đến ngày 30/9/2023 là: 36.204.000₫ x 1.66%/tháng x 13 tháng 29 ngày = 8.392.500đ;

Tổng cộng tiền vốn, tiền lãi chị A có nghĩa vụ trả tiếp cho chị N là 36.204.000đ tiền vốn và 8.392.500đ tiền lãi, tổng là: 44.596.500đ (Bốn mươi bốn triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng);

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị A; Sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Tháp). Ngoài ra, về việc xem xét nghĩa vụ chịu án phí dân sự của cấp sơ thẩm là chưa phù hợp nên cần điều chỉnh cho phù hợp, nghĩa là: cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì phần yêu cầu còn lại của nguyên đơn không được chấp nhận thì phải tính án phí dân sự sơ thẩm mới phù hợp pháp luật nhưng cấp sơ thẩm không tính là có thiếu sót.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện V2 trình bày và đề nghị: Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị A, sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm. Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.

Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

Các nội dung còn lại của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thúy A;
  2. Sửa một phần quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 261/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của Tòa án nhân dân Thành Phố Mỹ Tho (Nay là Toà án nhân dân khu vực 1- Đồng Tháp).

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị Thu N;
  • Buộc chị Nguyễn Thị Thúy A phải thực hiện nghĩa vụ trả cho chị Phùng Thị Thu N số tiền vốn vay còn nợ là 36.204.000đ và 8.392.500đ tiền lãi, tổng là: 44.596.500đ (Bốn mươi bốn triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng)
  • - Tuyên bố giao dịch bằng ngoại tệ được xác lập giữa chị Phùng Thị Thu N và chị Nguyễn Thị Thúy A là giao dịch dân sự vô hiệu.
  • Buộc chị Nguyễn Thị Thúy A có nghĩa vụ trả cho chị Phùng Thị Thu N số tiền là 24.118.000 đồng (sau khi quy đổi 1.000 đô la Mỹ theo tỷ giá do Ngân hàng N2 công bố vào thời điểm xét xử).
  • - Buộc chị Nguyễn Thị Thúy A có trách nhiệm trả cho chị Phùng Thị Thu N số tiền 4.600.000 đồng.
  • Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 65/2023/QĐ – BPKCTT ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang;
  • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Thúy A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.665.500 đồng.

Chị Phùng Thị Thu N phải chịu 5.870.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.996.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0024512 ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị N còn phải nộp tiếp số tiền 874.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về án phí phúc thẩm:

Chị Nguyễn Thị Thúy A được nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005940, ngày 22/5/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐ, KT, TT VÀ THA Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND Khu vực 1 – Đồng Tháp;
  • - Phòng THADS Khu vực 1 – Đồng Tháp;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Võ Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 804 /2025/DS-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 804 /2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: SỬA MỘT PHẦN BẢN ÁN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger