|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 804/2024/HC-PT Ngày: 30 - 7 - 2024 V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, công khai xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 1052/2023/TLPT-HC ngày 18 tháng 12 năm 2023, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế”, do Bản án hành chính sơ thẩm số 2034/2023/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2170/2024/QĐPT, ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Công ty TNHH H3. Trụ sở: B T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Minh H. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Quý H1 – Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.
Người bị kiện: Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H. Địa chỉ: F V, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Giang Văn H2 – Phó Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- -Ông Lê Hữu C – Kiểm tra viên; Có mặt.
- -Ông Ngô Hoàng P – Kiểm tra viên; Có mặt.
- -Ông Phạm Công L – Phó trưởng Phòng Thanh tra Kiểm tra 1; Có mặt.
- -Bà Dương Thị Ngọc B – Chuyên viên Phòng T3; Vắng mặt.
Do có kháng cáo của người bị kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Người khởi kiện Công ty TNHH H3 có bà Nguyễn Thị Minh H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty TNHH H3 khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định hành chính số 166/QĐ-CT ngày 21/01/2022 của Cục trưởng Cục Thuế thành phố H về việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với Công ty TNHH H3 vì cho rằng:
- Giao dịch chuyển nhượng vốn giữa Công ty K1 và Công ty C1 với Công ty L2 tại thời điểm ngày 21/6/2012 không thuộc đối tượng chịu Thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 2 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008. Công ty K1 và Công ty C1 là các doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam theo Khoản 1 Mục III Phần A Thông tư 133/2004/TT-BTC và các hiệp định tránh đánh thuế hai lần liên quan, chỉ phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam. Mà thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam của Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam theo quy định tại Khoản 3, Điều 1 Nghị định 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ phải thỏa mãn hai điều kiện:
- Đó là: Thu nhập từ thu nhập nhận được có nguồn gốc từ Việt Nam
- Và: Thu nhập từ hoạt động cung ứng dịch vụ, cho vay vốn, tiền bản quyền cho tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài đang kinh doanh tại Việt Nam;
Như vậy, theo quy định này thì thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn không phải thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam của Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Do đó, thu nhập phát sinh từ hoạt động chuyển nhượng vốn giữa Công ty K1 và Công ty C1 với Công ty L2 không phải là thu nhập phải chịu Thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam vào thời điểm chuyển nhượng ngày 21/6/2012 là thời điểm hiệu lực của các văn bản đã viện dẫn trên. Nên Công ty K1 và Công ty C1 không phải là đối tượng nộp Thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam.
Người khởi kiện cũng viện dẫn thêm một trường hợp tương tự để đề nghị Tòa án xem xét, vận dụng đó là tại Công văn số 2268/TCT-CS ngày 28/06/2012 Tổng cục T4 trả lời Cục Thuế thành phố H về trường hợp chuyển nhượng vốn phát sinh tại nước ngoài giữa Công ty Q và Công ty Q1, nội dung cụ thể như sau:
“Tại Khoản 2, Điều 2, C, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03/06/2008 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009) quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp:
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp Công ty Q (là Công ty 100% vốn ở nước ngoài), không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, thực hiện chuyển nhượng Công ty Q1 (là Công ty 100% vốn ở nước ngoài) cho một Công ty khác ở nước ngoài; Công ty cam kết giao dịch này được thực hiện hoàn toàn ngoài lãnh thổ Việt Nam, giữa các Công ty nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam; vốn chủ sở hữu của Công ty Q1 ở Công ty V không thay đổi; Công ty Q1 và Công ty cổ phần Đ không phát sinh thu nhập từ giao dịch này; và Giấy phép đầu tư của Công ty cổ phần V sẽ không thay đổi thì giao dịch này không thuộc đối tượng nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển nhượng vốn tại Việt Nam.”
Căn cứ các quy định và hướng dẫn nêu trên cho thấy:
Công ty K1 và Công ty C1 (là các doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam) thực hiện hoạt động chuyển nhượng cổ phần tại Công ty K2 (Công ty 100% vốn ở nước ngoài) cho Công ty L2. Giao dịch chuyển nhượng này được thực hiện hoàn toàn ngoài lãnh thổ Việt Nam và giữa những công ty nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Công ty H3 không làm bất cứ thủ tục hành chính nào tại bất cứ cơ quan có thẩm quyền nào tại Việt Nam để điều chỉnh thay đổi Công ty mẹ là Công ty K2 trên Giấy Chứng nhận đầu tư và Giấy phép đăng ký kinh doanh. Vốn chủ sở hữu của Công ty K2 vẫn giữ nguyên tại Công ty H3. Đồng thời Công ty H3 và Công ty K2 không có bất cứ thu nhập nào tại Việt Nam phát sinh từ giao dịch chuyển nhượng vốn giữa Công ty K1 và Công ty C1 với Công ty L2.
Do đó, giao dịch chuyển nhượng vốn giữa Công ty K1 và Công ty C1 với Công ty L2 không thuộc đối tượng nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển nhượng vốn tại Việt Nam.
- Thứ hai, Công ty H3 không có nghĩa vụ kê khai, nộp Thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam đối với giao dịch chuyển nhượng vốn giữa Công ty K1 và Công ty C1 với Công ty L2 và Công ty H3 cũng không có hành vi vi phạm hành chính là không kê khai đối với hoạt động chuyển nhượng vốn nêu trên. Bởi lẽ:
Tại khoản 8 Điều 11 Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/2/2011 quy định:
“8. Khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng lần phát sinh áp dụng đối với tổ chức nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam (gọi chung là nhà thầu nước ngoài) mà tổ chức này không hoạt động theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp có hoạt động chuyển nhượng vốn.
Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng vốn có trách nhiệm xác định, kê khai, khấu trừ và nộp thay tổ chức nước ngoài số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Trường hợp bên nhận chuyển nhượng vốn cũng là tổ chức nước ngoài không hoạt động theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp thì doanh nghiệp thành lập theo P1 nơi các tổ chức nước ngoài đầu tư vốn có trách nhiệm kê khai và nộp thay số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp từ hoạt động chuyển nhượng vốn của tổ chức nước ngoài.”
Theo quy định này thì Hải T – Lotte không có nghĩa vụ kê khai, nộp thay Thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam cho hoạt động chuyển nhượng vốn giữa Công ty K1 và Công ty C1 với Công ty L2. Vì Công ty H3 không phải là nơi các tổ chức nước ngoài nêu trên đầu tư vốn. Vì vậy mà Công ty H3 không có hành vi vi phạm hành chính như xác định của Cục Thuế thành phố H tại Biên bản vi phạm hành chính ngày 17/12/2921 và Phụ lục Biên bản vi phạm hành chính ngày 04/01/2022.
Do vậy, không có cơ sở và căn cứ pháp lý để xử phạt hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, truy thu Thuế Thu nhập doanh nghiệp phát sinh từ giao dịch chuyển nhượng vốn năm 2012 của giữa Công ty K1 và Công ty C1 với Công ty L3 với số tiền là 172.032.834.105 đồng đối với Hải T – Lotte theo khoản 3 Điều 6 Nghị định 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ.
Người bị kiện Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H trình bày:
Thứ nhất, về các công ty liên quan trong vụ việc và các mốc thời gian chuyển nhượng vốn:
- - Công ty Liên doanh H3 (HAKO) thành lập ngày 02/4/1993, được đăng ký lại theo giấy chứng nhận đầu tư số [...] ngày 25/01/2007. HAKO là tổ chức kinh tế thành lập tại Việt Nam, hoạt động theo hình thức liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài, với cơ cấu sở hữu vốn tại ngày 25/01/2007 như sau:
- + 30% vốn điều lệ do Công ty TNHH MTV H3 biển đảo H (Công ty H3) góp.
- + 70% vốn điều lệ còn lại do nhiều công ty nắm giữ qua các thời kỳ. Tại thời điểm thành lập, công ty K3 (K Nhật Bản) nắm giữ 70% vốn điều lệ.
- - Công ty K3 (Kotobuki N) thành lập tại Nhật Bản, cùng với Công ty H3 là 02 nhà đầu tư góp vốn thành lập Công ty Liên doanh H3 (HAKO). Ngày 25/01/2007, K1 sở hữu trực tiếp 70% cổ phần tương ứng tại HAKO.
- - Công ty K4 (K5) thành lập tại HongKong. Ngày 31/12/2009, K Nhật Bản chuyển giao, chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu 70% vốn điều lệ tại HAKO cho K5. Đổi lại, K HongKong phát hành cổ phần của chính mình cho K1 nắm giữ có giá trị bằng 32.278.586 USD. Như vậy, sau hợp đồng này, K HongKong chính thức trở thành chủ sở hữu của phần vốn góp tại HAKO, Kotobuki N chính thức trở thành Công ty mẹ sở hữu 100% vốn của K5.
- - Công ty C2 (CIGL) thành lập tại quần đảo V thuộc Vương Quốc A. Hợp đồng mua bán cổ phần ngày 21/6/2012 giữa K1 và L4 về việc bán toàn bộ Kotobuki HongKong thể hiện CIGL nắm giữ 32% vốn điều lệ Kotobuki HongKong (không rõ thời gian nắm giữ từ khi nào).
Như vậy, tỷ lệ sở hữu tại HAKO sau khi K1 chuyển toàn bộ cổ phần nắm giữ tại HAKO cho Kotobuki HongKong như sau: 30% vốn của Công ty H3 không đổi, 70% còn lại thuộc sở hữu của Kotobuki HongKong (trong đó K Nhật Bản sở hữu 68% và CIGL sở hữu 32%).
- Công ty L5 (Singapore) (sau đây gọi là Lotte S): Thành lập tại Singapore. Ngày 21/6/2012, L4 mua toàn bộ công ty K6 từ K Nhật Bản và CIGL.
Thứ hai, về căn cứ pháp lý và xử lý vi phạm:
Ban đầu Kotobuki Nhật Bản là công ty trực tiếp đầu tư vào HAKO, pháp nhân được thành lập tại Việt Nam. Sau đó, K Nhật Bản lập ra Kotobuki HongKong chỉ nhằm mục đích duy nhất nắm giữ 70% vốn điều lệ HAKO để Kotokuki Nhật Bản chuyển sang sở hữu gián tiếp HAKO thông qua Kotobuki HongKong. Theo hợp đồng mua bán ngày 21/6/2012, Công ty không tham gia vào bất kỳ hoạt động kinh doanh nào ngoài việc nắm giữ 70% vốn điều lệ của HAKO. Vì vậy, việc K Nhật Bản và CIGL chuyển nhượng toàn bộ công ty K6 cho L4 cũng chính là việc chuyển nhượng 100% cổ phần trong HAKO cho L4.
Như vậy, hoạt động chuyển nhượng vốn phát sinh năm 2012 của K1 và CIGL cho L4 thuộc diện chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) theo khoản 2 Điều 3 Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12, khoản 1 Điều 1 Nghị định 122/2011/NĐ-CP, khoản 1 Điều 7 và Điều 14 Thông tư 123/2012/TT-BTC ngày 27/12/2012 (Mục I của Phụ lục).
Kotobuki Nhật Bản và CIGL là đối tượng phải nộp thuế được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 Luật thuế TNDN (Mục II của Phụ lục). Tuy nhiên, do bên chuyển nhượng K Nhật Bản và CIGL là tổ chức nước ngoài; bên nhận chuyển nhượng (L4) cũng là tổ chức nước ngoài do đó HAKO (nay đổi tên thành Công ty H4) có trách nhiệm kê khai và nộp thuế TNDN đối với hoạt động chuyển nhượng vốn nêu trên theo quy định tại khoản 8 Điều 11 Thông tư 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011.(Mục II của Phụ lục)
Căn cứ các lý giải nêu trên, Cục trưởng Cục T đã ban hành Quyết định hành chính số 166/QĐ-CT ngày 21/1/2022 đúng quy định pháp luật. Cục trưởng Cục Thuế đề nghị Tòa án nhân dân TPHCM bác đơn khởi kiện của Công ty TNHH H3.
Tại Bản án sơ thẩm số 2034/2023/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1, khoản 2 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Điều 2, Điều 3 Luật Thuế TNDN năm 2008;
Điều 152 Luật ban hành quy phạm pháp luật năm 2015;
Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);
Điều 6, Điều 14 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ;
Điều 1 Nghị định 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ;
Điều 1 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ;
Điều 14 Thông tư 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ T5;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH H3:
Hủy Quyết định số 166/QĐ-CT ngày 21/01/2022 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 25/10/2023, người bị kiện – Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của Công ty TNHH H3.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Những người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho phía người bị kiện trình bày:
Đề nghị HĐXX căn cứ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Cục trưởng Cục T, buộc Công ty H3 phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với giao dịch chuyển nhượng vốn góp trong Công ty K7 cho Công ty L2 vào năm 2012 giữa Công ty K1 và Công ty C1.
Người khởi kiện – Công ty TNHH H3 có người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Công ty TNHH H3 trình bày:
Giữ nguyên lời trình bày như trong giai đoạn tố tụng tại cấp sơ thẩm, phía người bị kiện không đưa ra được chứng cứ, tình tiết mới có căn cứ nên đề nghị HĐXX bác yêu cầu kháng cáo của Cục trưởng Cục thuế Thành phố H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào điểm 1 Phần V Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 và điểm 3 phần E Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 và căn cứ điểm b khoản 2 Điều 2 và khoản 2 Điều 3 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có cơ sở chấp nhận kháng cáo của phía người bị kiện. Đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH H3.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
[2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
[3] Xét kháng cáo của người bị kiện – Cục trưởng Cục thuế Thành phố H
[3.1] Các doanh nghiệp liên quan và quá trình chuyển nhượng vốn
Công ty TNHH H3 (HAKO) là công ty liên doanh giữa Việt Nam và Nhật Bản được thành lập theo Giấy phép đầu tư số 753/GP ngày 21/12/1993, đăng ký lại theo Giấy chứng nhận đầu tư số [...] ngày 25/01/2007 và Giấy phép đăng ký kinh doanh số 0300710949 ngày 25/01/2007; có các chủ sở hữu:
- + Bên Việt Nam - Công ty TNHH MTV H3: nắm giữ 30% vốn điều lệ (Công ty H3);
- + Bên Nước ngoài - Công ty K3, trụ sở Nhật Bản (Công ty K1): nắm giữ 70% vốn điều lệ.
Ngày 31/12/2009, Công ty K1 ký kết Hợp đồng chuyển giao và chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu 70% vốn điều lệ của mình tại HAKO cho Công ty K8 (sau đây viết tắt là Công ty K7). HAKO đã điều chỉnh Điều lệ công ty và Giấy chứng nhận đầu tư vào tháng 4 năm 2010 để cập nhật Công ty K7 là Bên nước ngoài trong liên doanh H3.
Công ty K7 được thành lập tại Hồ N năm 2006, có trụ sở tại Hồ N, gồm các chủ sở hữu:
- + Công ty K1: nắm giữ 62% vốn điều lệ;
- + Công ty C2 (Công ty C1), trụ sở tại Anh: nắm giữ 38% vốn điều lệ.
Công ty K1 và Công ty C1 không trực tiếp sở hữu vốn góp trong HAKO.
Ngày 21/6/2012, Công ty K1 chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình trong Công ty K7 cho Công ty L3, trụ sở tại Singapore (Công ty L2). Đến tháng 10/2012 Công ty C1 cũng chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình trong Công ty K7 cho Công ty L2. Đây là hoạt động chuyển nhượng vốn ngoài lãnh thổ Việt Nam giữa các Công ty nước ngoài không được thành lập, hoạt động theo pháp luật Việt Nam, cũng không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
[3.2] Xét Quyết định số 166/QĐ-CT ngày 21/01/2022 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H
Ngày 21/01/2022, Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H ban hành Quyết định số 166/QĐ-CT có nội dung áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với Công ty TNHH H3 do cho rằng có hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 1 Điều 14 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ, biện pháp khắc phục hậu quả gồm: Truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp là 172.032.834.105 đồng.
Người bị kiện cho rằng: Công ty K1 và Công ty C1 là đối tượng phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với giao dịch chuyển nhượng vốn góp trong Công ty K7 cho Công ty L2 vào năm 2012. Tuy nhiên, do bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đều là tổ chức nước ngoài nên Công ty H3 phải có trách nhiệm kê khai và nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển nhượng vốn nêu trên vì H - L là nơi các tổ chức kia đầu tư vốn theo quy định tại khoản 8 Điều 11 Thông tư 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011. Nhưng Công ty H3 đã không thực hiện nghĩa vụ này nên vi phạm khoản 3 Điều 6 và khoản 1 Điều 14 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 nên bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo Quyết định 166/QĐ-CT ngày 21/01/2022.
Xét thấy, Công ty K1 và Công ty C1 đều là các doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008: “d) Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam”
Thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam của doanh nghiệp N không có cơ sở thường trú tại Việt Nam được quy định chi tiết tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 3 của Nghị định 124/2008/NĐ-CP như sau:
“Thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam của các doanh nghiệp quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập nhận được có nguồn gốc từ Việt Nam từ hoạt động cung ứng dịch vụ, cho vay vốn, tiền bản quyền cho tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài đang kinh doanh tại Việt Nam, không phụ thuộc vào địa điểm tiến hành kinh doanh.”
Như vậy, tại thời điểm Công ty K1 và Công ty C1 chuyển nhượng phần vốn góp trong Công ty K7 cho Công ty L2 năm 2012, P1 không quy định doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển nhượng vốn.
Đồng thời, vốn góp được chuyển nhượng (vốn góp trong Công ty K7) là vốn góp trong doanh nghiệp nước ngoài; sau chuyển nhượng không làm thay đổi chủ sở hữu, không làm thay đổi tỷ lệ sở hữu vốn góp trong Công ty H5 (Công ty K7 vẫn giữ 70% vốn điều lệ, Công ty H3 vẫn giữ 30% vốn điều lệ).
Do đó, Công ty TNHH H3 không có nghĩa vụ phải kê khai và nộp thuế đối với các giao dịch chuyển nhượng vốn góp trên, nên không vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP. Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H ban hành Quyết định số 166/QĐ-CT ngày 21/01/2022 áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với Công ty TNHH H3 là không đúng quy định pháp luật.
Do Công ty TNHH H3 không có nghĩa vụ phải kê khai và nộp thuế đối với các giao dịch chuyển nhượng vốn góp trên nên việc xác định thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng vốn, dù căn cứ trên vốn điều lệ hay xác định theo chênh lệch giữa giá chuyển nhượng với giá mua của phần vốn chuyển nhượng, chi phí chuyển nhượng đều không có cơ sở.
[3.3] Về pháp luật áp dụng để xác định người nộp thuế, thu nhập chịu thuế
Người bị kiện cho rằng khoản 2 Điều 2 Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp nêu rõ Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp; tại khoản 2 Điều 3 đã quy định rõ thu nhập từ chuyển nhượng vốn thuộc thu nhập chịu thuế. Trong trường hợp này Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Nghị định 122/2011/NĐ-CP đều quy định thu nhập chịu thuế, do đó cần phải áp dụng Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
Tại khoản 2 Điều 2 và khoản 2 Điều 3 Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 quy định:
“Điều 2. Người nộp thuế
2. Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam;
b) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó;
c) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú;
d) Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.
Điều 3. Thu nhập chịu thuế
1. Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Thu nhập khác bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; hoàn nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được; thu khoản nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam."
Xét thấy, quy định tại khoản 2 Điều 2 và khoản 2 Điều 3 Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 là quy định chung, có nội hàm rộng, liệt kê chung người nộp thuế, thu nhập chịu thuế, không phải quy định chi tiết về thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam áp dụng đối với doanh nghiệp N không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Nghị định 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ là văn bản quy định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008. Trong đó tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 122/2011/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 3 Nghị định 124/2008/NĐ-CP) quy định chi tiết về "Thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam của các doanh nghiệp quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp D, đây không phải là trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề như quan điểm của người bị kiện.
Người bị kiện cho rằng khoản 3 Điều 3 Nghị định 124/2008/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 122/2011/NĐ-CP về thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam của các doanh nghiệp quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp còn quy định "Bộ T5 hướng dẫn cụ thể về thu nhập chịu thuế quy định tại khoản này."; đồng thời trích dẫn quy định hướng dẫn tại Mục V Phần C, Phần E Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ T5.
Hội đồng xét xử xét thấy, Mục V Phần C, Phần E Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ T5 hướng dẫn về các khoản thu nhập chịu thuế thuộc "Thu nhập khác". Tuy nhiên, như đã nhận định nêu trên, đối với trường hợp doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì các khoản thu nhập chịu thuế đã được liệt kê cụ thể tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 122/2011/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 3 Nghị định 124/2008/NĐ-CP), không bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp. Mặt khác, giao dịch chuyển nhượng vốn được thực hiện giữa các doanh nghiệp nước ngoài, chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp nước ngoài tại nước ngoài nên không thuộc phạm vi áp dụng quy định tại Phần A Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ T5.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng quy định tại Luật Thuế thu nhập Doanh nghiệp năm 2008 và quy định chi tiết tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 122/2011/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 3 Nghị định 124/2008/NĐ-CP) để giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[3.4] Về bản chất giao dịch chuyển nhượng vốn
Người bị kiện cho rằng bản chất của việc K Nhật Bản và CIGL chuyển nhượng toàn bộ công ty K7 (sở hữu 100% vốn góp của K1 tại HAKO) cho Lotte S cũng chính là việc chuyển nhượng 100% phần vốn góp trong HAKO cho L1, nên hoạt động chuyển nhượng vốn trên thuộc diện chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp.
Xét thấy, như đã nhận định nêu trên, giao dịch chuyển nhượng vốn được thực hiện giữa các doanh nghiệp nước ngoài không có trụ sở tại Việt Nam, vốn chuyển nhượng là vốn góp trong doanh nghiệp nước ngoài, sau giao dịch chuyển nhượng vốn không làm thay đổi chủ sở hữu, tỷ lệ sở hữu vốn góp trong doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam. Hiện cũng chưa có bất kì văn bản của cơ quan có thẩm quyền nào xác định các giao dịch chuyển nhượng vốn góp giữa Công ty K1, Công ty C1 với Công ty L2 là chính là chuyển nhượng 100% vốn góp trong HAKO cho Công ty L2. Do đó, ý kiến nêu trên của người bị kiện là không có cơ sở.
[3.5] Từ các nhận định nêu trên có cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH H3, tuyên hủy Quyết định số 166/QĐ-CT ngày 21/01/2022 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[3.6] Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Nhưng trong quá trình giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, người kháng cáo không xuất trình được chứng cứ, tình tiết nào mới có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H; Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị chấp nhận kháng cáo của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H là không phù hợp với nhận định nêu của Hội đồng xét xử nên không có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 2034/2023/HC-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 2034/2023/HC-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH H3:
Hủy Quyết định số 166/QĐ-CT ngày 21/01/2022 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Được cấn trừ với số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm mà Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H đã nộp theo Biên lai đóng tạm ứng án phí số AA/2023/0000951 ngày 21/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị T1 - C | Vũ Đức T2 |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
Bản án số 804/2024/HC-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế
- Số bản án: 804/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 2034/2023/HC-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
