Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 803/2024/DSST

Ngày: 19/9/2024.

V/v "Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Trường Sanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Cán bộ tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:

Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 437/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 466/2024/QĐXXST – DS ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 370/2024/QĐST-DS ngày 27/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đặng Quốc H – sinh năm: 1958 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: D T, phường A, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty cổ phần T (vắng mặt)

Địa chỉ: A đường Đ, ấp D, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trung H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/8/2022, bản tự khai, biên bản làm việc, biên bản không tiến hành hòa giải được ông Đặng Quốc H trình bày:

Ngày 05/3/2022 tại số nhà A đường Đ, ấp D, xã Đ, huyện H ông Nguyễn Trung H1 là giám đốc Công ty cổ phần T có ký hợp đồng dân sự số HĐ 01.03.2022 làm dịch vụ về việc chuyển giúp cho ông hai lô đất nông nghiệp sang đất ở lâu dài, thửa đất tọa lạc số 491, 492, tờ bản đồ số 57 tài liệu 2004 ấp D, xã Đ, huyện H (thửa 491 là 100,4m² số H01172 ngày 31/5/2007; thửa số 492 diện tích 222,1m² số H 00945 ngày 04/12/2006) với giá thỏa thuận là 360.000.000 đồng. Ngày 5/3/2022 ông đã ứng trước cho Công ty cổ phần T số tiền 160.000.000 đồng, Công ty cổ phần T hẹn ông trong vòng 12 tháng sẽ làm xong trong trường hợp không làm xong sẽ hoàn trả số tiền đã nhận cho ông, số tiền còn lại khi nào xong thì bên B sẽ giao hết, nhưng đến nay đã quá 18 tháng Công ty cổ phần T vẫn chưa làm được giấy tờ nhà đất cho ông nên ông khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần T trả lại cho ông số tiền 160.000.000 đồng, ông không yêu cầu lãi suất, ngoài ra không yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng Công ty cổ phần T không đến Tòa nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Về phía bị đơn Công ty cổ phần T, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu trả tiền nhận cọc dịch vụ trong Hợp đồng nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên có đủ cơ sở xác định về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp “Hợp đồng dịch vụ” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn có địa chỉ tại xã Đ, huyện H nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự .

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định nói trên theo quy định của pháp luật tố tụng nhưng bị đơn không đến, phiên tòa phải hoãn và Quyết định hoãn phiên tòa cũng được tống đạt hợp lệ cho bị đơn nhưng phía bị đơn vẫn không có mặt. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung vụ án: Giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận ký kết Hợp đồng nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/3/2022 với nội dung Công ty Cổ phần T thực hiện chuyển mục đích đất nông nghiệp sang đất ở lâu dài (số thửa 491-492, tờ bản đồ số 57 tài liệu 2004 ấp D, xã Đ, huyện H) với giá thực hiện công việc này là 360.000.000 đồng, thời hạn thực hiện là 12 tháng. Sau khi thỏa thuận nguyên đơn đặt cọc số tiền 160.000.000 đồng nhưng sau đó bị đơn không thực hiện được nên phát sinh tranh chấp. Do đó có đủ căn cứ xác định việc ký kết thỏa thuận của các bên là hợp đồng dịch vụ được Bộ luật dân sự hiện hành điều chỉnh từ Điều 513 đến Điều 621 của Bộ luật dân sự. Xét thấy, Hợp đồng dịch vụ nêu trên các bên hoàn toàn tự nguyện ký kết, phía dưới có chữ ký và con dấu của Công ty Cổ phần T, trong quá trình tố tụng, do bị đơn không đến Tòa để cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Xét về nội dung của hợp đồng dịch vụ : Theo quy định tại Điều 514 của Bộ luật dân sự quy định đối tượng của hợp đồng dịch vụ như sau: “ Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” . Dó đó thấy rằng việc thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn là giao cho Công ty Cổ phần T là phải thực hiện cho được công việc là làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang đất ở lâu dài là công việc không thể thực hiện được. Bởi lẽ theo quy định của pháp luật về đất đai, việc cho chuyển đổi mục đích sử dụng đất là thuộc thẩm quyền của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chứ không thuộc cá nhân nào có thể làm được, mà cá nhân chỉ đi làm thủ tục giấy tờ và nộp vào cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, còn quyền cho chuyển mục đích hay không là phải do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy định của pháp luật về đất đai để quyết định. Vì vậy các bên thỏa thuận đối tượng của hợp đồng dịch vụ trong trường hợp này là công việc không thể bị đơn có quyền thực hiện được, nên hợp đồng này bị vô hiệu ngay từ thời điểm ký kết, do vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự. Do vô hiệu nên căn cứ Điều 131 Bộ luật dân sự, không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm ký kết. Và việc làm cho hợp đồng này vô hiệu đều có lỗi của các bên, do các bên đều nhận thức được công việc này quyền hạn của ai, nên các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Căn cứ vào Phiếu thu ngày 05/3/2022 có căn cứ xác định nguyên đơn đã chuyển cho bị đơn số tiền 160.000.000 đồng nên có đủ căn cứ buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền 160.000.000 đồng. Nguyên đơn không yêu cầu lãi suất hay yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị đơn Công ty Cổ phần T vắng mặt, không có lời khai, không có tài liệu chứng cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

[4] Về án phí: Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 123; Điều 131; Điều 513; Điều 514 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Quốc H.

Tuyên bố Hợp đồng nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/3/2022 giữa ông Đặng Quốc H với Công ty cổ phần T vô hiệu.

Buộc bị đơn Công ty cổ phần T phải có trách nhiệm trả số tiền đã nhận cọc cho nguyên đơn ông Đặng Quốc H số tiền là 160.000.000 (một trăm sáu mươi triệu đồng). Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông H cho đến khi thi hành án xong nếu Công ty cổ phần T chưa thi hành thì hàng tháng Công ty cổ phần T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm : Công ty cổ phần T chịu án phí DSST là 8.000.000 (Tám triệu đồng). Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND H.HM;
  • - Chi Cục THADS H.HM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lưu Trường Sanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 803/2024/DSST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 803/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng QUốc H yêu cầu Công ty cổ phần T trả lại tiền dịch vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger