TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 801/2024/DS-PT Ngày 20-9-2024 Về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Ông Dương Tuấn Vinh
Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Kim Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 495/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: số 06/2024/DS-ST ngày 19-4-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2627/2024/QĐ-PT ngày ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
+ Người đại diện theo ủy quyền của ông D, bà L: Ông Lê Tuấn N, sinh 1982; Số B T, phường T, TP. V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (theo Văn bản ủy quyền ngày 02/02/2018) (có mặt).
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu C - Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố H (vắng mặt).
- Bị đơn:
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân tỉnh B. Địa chỉ: Số A P, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền cho UBND tỉnh B: Ông Hồ Việt Phước T, chuyên viên quản lý đất đai (có mặt).
+ Ủy ban nhân dân T. Địa chỉ: Số IL, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND tp. V: Ông Huỳnh Anh T1, sinh 1980, cán bộ (vắng mặt).
+ Chi nhánh Văn phòng Đ. Địa chỉ: Số I L, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền cho VPĐKĐĐ tp. V: Ông Nguyễn Thanh H, cán bộ Chi nhánh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Ngân hàng thương mại cổ phần V - Chi nhánh B. Địa chỉ: Số 1 đường N, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng: Ông Lưu Văn H1, sinh 1980, cán bộ ngân hàng (vắng mặt).
Ông Phạm Hồng D, sinh 1973 và bà Vũ Thị L, sinh 1991. Cùng cư trú tại địa chỉ: Số F B N, Phường H, TP. V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (ông D có mặt; bà L vắng mặt).
Ông Nguyễn Văn M, sinh 1970 và bà Mai Thị Nghĩa L1, sinh 1979. Cùng cư trú tại địa chỉ: Số A L, Phường B, TP.V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (ông M có mặt; bà L1 có mặt).
Người có kháng cáo: Nguyên đơn ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và tại các lời khai nguyên đơn ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L, trình bày:
Diện tích đất 169m2 tọa lạc tại Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của ông D, bà L có nguồn gốc là của ông Đặng Văn T2. Ông T2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N667950 ngày 18/6/1999.
Năm 2002, ông T2 chuyển nhượng lại cho ông Trần Văn S và bà Trần Thị D1, nhưng ông S, bà D1 không xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, ngày 04/3/2002 ông S, bà D1 được UBND thành phố V điều chỉnh sang tên trang 4 cho ông S, bà D1.
Năm 2003, bà D1 chuyển nhượng lại phần của mình cho ông S, nhưng ông S không xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Ngày 17/4/2003 ông S được UBND thành phố V điều chỉnh sang tên trang 4 cho ông S.
Năm 2005, bà Hà Thị Q được hưởng thừa kế của ông S, nhưng bà Q không xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Ngày 09/3/2005 bà Q được Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố V điều chỉnh sang tên trang 4 cho bà Q.
Năm 2017, bà Q chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông D, bà L, nhưng vợ chồng ông D bà L cũng không xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Ngày 10/5/2017 ông D, bà L được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ điều chỉnh sang tên tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N667950 cho ông D, bà L.
Sau đó ông D, bà L đo đạc lại để xin giấy phép xây dựng thì phát hiện gia đình ông M, bà L1 lấn chiếm đất khoảng 48m2. Vợ chồng ông D đã nhiều lần gặp vợ chồng ông M yêu cầu trả lại đất đã lấn chiếm nhưng vợ chồng ông M không đồng ý, nên vợ chồng ông D đã làm đơn ra phường giải quyết nhưng không thành. Do đó, vợ chồng ông D bà L khởi kiện yêu cầu: Vợ chồng M, bà L1 phải trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 48m2 tọa lạc tại Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: P803192 ngày 20/10/2000 do UBND tỉnh B cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T3. Ngày 18/12/2008 Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ đã chỉnh lý trang 4 sang tên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M bà Mai Thị Nghĩa L1.
* Tại các bản khai bị đơn ông Nguyễn Văn M và bà Mai Thị Nghĩa L1 trình bày:
Năm 1993, ông Nguyễn Văn T3 mua của ông Nguyễn Thanh G diện tích 84m2, diện tích đất này ông T3 đã được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: P803192 ngày 20/10/2000 do UBND tỉnh B cấp. Năm 2000, ông T3 chuyển nhượng lại cho ông Vũ Bá N1, nhưng ông N1 không làm thủ tục xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Ngày 21/11/2000, ông N1 được UBND thành phố V chỉnh lý trang 4 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên cho ông N1.
Năm 2005, ông N1 chuyển nhượng lại diện tích đất trên cho vợ chồng ông M, bà L1 nhưng chỉ lập hợp đồng bằng giấy viết tay. Đến năm 2008, hai bên mới ký hợp đồng chính thức có công chứng, chứng thực, nhưng ông M, bà L1 không làm thủ tục xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Ngày 18/12/2008, ông M bà L1 được Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ chỉnh lý trang 4 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M bà Mai Thị Nghĩa L1.
Năm 2007, vợ chồng ông M mua thêm của ông Nguyễn Thanh G diện tích 4,7m x 7m phía sau diện tích đất đã mua của ông N1, hợp đồng bằng giấy viết tay đến nay vẫn chưa xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mua thêm này.
Đến năm 2009, ông M bà L1 xây nhà ở, khi tiến hành xây dựng nhà có mời cán bộ địa chính phường đến xác định ranh giới vị trí đất để xây.
Đến năm 2017, vợ chồng ông D mới mua đất; Năm 2019, vợ chồng ông D mới tiến hành xây nhà sát nhà ông M. Thời điểm mua đất, nhận đất và xây nhà không ai thắc mắc khiếu nại gì. Diện tích đất của vợ chồng ông D hiện nay sử dụng đã đủ diện tích được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
Nay vợ chồng ông D khởi kiện yêu cầu trả lại diện tích đất khoảng 48m2 và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: P803192 ngày 20/10/2000 do UBND tỉnh B cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T3. Ngày 18/12/2008 Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ đã chỉnh lý trang 4 sang tên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M bà Mai Thị Nghĩa L1 là không có căn cứ.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
+ Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; UBND tp. V và Văn phòng Đ trình bày:
UBND và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đã đo vẽ và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 803192 ngày 20/10/2000 cho Nguyễn Văn T3 và phần chỉnh lý trang 4 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N667950 ngày 18/6/1999 cho ông Đặng Văn T2 và phần chỉnh lý trang 4 là đúng trình tự quy định của pháp luật. Việc các đương sự sử dụng phần đất dư so với đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
+ Ngân hàng thương mại cổ phần V - Chi nhánh B, trình bày:
Ngân hàng đang cho vợ chồng ông D vay tiền và đang thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N667950 ngày 18/6/1999. Vợ chồng ông D bà L đang trả lãi đầy đủ, nay có tranh chấp đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
* Xét xử lần thứ nhất:
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 01/2022/DS-ST ngày 19-4-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hồng D, bà Vũ Thị L về việc tranh chấp 45m² đất (theo Sơ đồ vị trí do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ thực hiện ngày 30/3/2020) với vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Mai Thị Nghĩa L1 .
Hủy Sơ đồ vị trí lập ngày 26/02/2002 của Phòng địa chính thành phố V.
Tại Bản án Dân sự phúc thẩm số: 668/2024/DS-PT ngày 21-9-2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Tuấn N, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L;
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2022/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thụ lý, giải quyết lại theo thủ tục chung.
* Xét xử lần thứ hai:
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 19-4-2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số: 06a/QĐ-SCBSBA ngày 17-5-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn M và bà Mai Thị Nghĩa L1 trả lại diện tích đất khoảng 48m² (Đo thực tế là 62,3m² theo sơ đồ đo vẽ vị trí đất tranh chấp lập ngày 25/3/2024) và không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 803192 ngày 20/10/2000 cấp cho ông Nguyễn Văn T3 đã được sang tên cho ông Nguyễn Văn M và bà Mai Thị Nghĩa L1 ngày 18/12/2008. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 02/5/2024, ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông, bà. Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện của ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Theo hồ sơ giấy tờ gốc ban đầu của vợ chồng ông D có hình chữ nhật, nhưng nếu cộng cả diện tích đất vợ chồng ông D cho rằng của mình sẽ thành hình chữ L; diện tích hiện trạng (không tính 62,3 m2 đất tranh chấp) vợ chồng ông D đang quản lý, sử dụng là nhiều hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông D được cấp; năm 2009, vợ chồng ông M1 xây dựng nhà trên diện tích đất tranh chấp nhưng các chủ trước của ông D không có ý kiến hay tranh chấp gì, ông D mới nhận chuyển nhượng lại từ năm 2017. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L là trong hạn luật định nên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
* Về nội dung:
Xét diện tích đất tranh chấp 48m2 (kết quả đo đạc thực tế là 62,3m2) tọa lạc tại Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có nguồn gốc: Năm 1992, vợ chồng ông Nguyễn Thanh G mua một khu đất tọa lạc tại Phường B, thành phố V. Năm 1993, vợ chồng ông G tự mở đường giữa khu đất để phân lô bán cho nhiều người (nay là hẻm S), trong đó có thửa đất của nguyên đơn và bị đơn hiện nay đang tranh chấp.
Xét diện tích đất 169m2 tọa lạc tại Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của ông D, bà L có nguồn gốc: Của ông Đặng Văn T2. Ông T2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N667950 ngày 18/6/1999; Năm 2002 ông T2 chuyển nhượng lại cho ông Trần Văn S và bà Trần Thị D1 nhưng ông S, bà D1 không xin cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 04/3/2002 ông S, bà D1 được UBND thành phố V điều chỉnh sang tên trang 4; Năm 2003, bà D1 chuyển nhượng lại phần của mình cho ông S, nhưng ông S không xin cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 17/4/2003 ông S được UBND thành phố V điều chỉnh sang tên trang 4; Năm 2005, bà Hà Thị Q được hưởng thừa kế của ông S, nhưng bà Q không xin cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 09/3/2005 bà Q được Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố V điều chỉnh sang tên trang 4; Năm 2017, bà Q chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông D, bà L, nhưng vợ chồng ông D bà L cũng không xin cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 10/5/2017 ông D, bà L được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ điều chỉnh sang tên tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N667950 cho ông D, bà L.
Xét, diện tích 84m2 tọa lạc tại phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của ông M, bà L1, có nguồn gốc: Năm 1993, ông Nguyễn Văn T3 mua của ông Nguyễn Thanh G diện tích 84m2. Sau đó ông T3 đã được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: P803192 ngày 20/10/2000 do UBND tỉnh B cấp; Năm 2000, ông T3 chuyển nhượng lại cho ông Vũ Bá N1 nhưng ông N1 không làm thủ tục xin cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 21/11/2000, ông N1 được UBND thành phố V chỉnh lý sang tên tại trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Năm 2005, ông N1 chuyển nhượng lại diện tích đất trên cho vợ chồng ông M, bà L1 nhưng chỉ lập hợp đồng bằng giấy viết tay. Đến năm 2008, 02 bên mới ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng, chứng thực, nhưng ông M, bà L1 không làm thủ tục xin cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 18/12/2008, ông M bà L1 được Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ chỉnh lý trang 4 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Mai Thị Nghĩa L1. Ngoài ra, năm 2007, vợ chồng ông M mua thêm của ông Nguyễn Thanh G diện tích 4,7m x 7m phía sau diện tích đất đã mua của ông N1, Hợp đồng chuyển nhượng chỉ lập bằng giấy viết tay, đến nay vẫn chưa xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mua thêm này.
Căn cứ các chứng cứ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bút lục:08, 330, 360, 361, 362) và Biên bản thẩm định tại chỗ và Sơ đồ đo vẽ diện tích vị trí đất thực tế mà hai bên sử dụng do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B lập ngày 25/3/2024 (bút lục 393), thể hiện:
+ Diện tích đất tranh chấp là 48m2 nhưng kết quả đo đạc thực tế là 62,3m2 thuộc thửa 299, 130. Đây là diện tích đất nằm trong diện tích đất vợ chồng ông M đã xây nhà để ở từ năm 2009.
+ Diện tích đất ban đầu mà vợ chồng ông D nhận chuyển nhượng và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 169m2. Nhưng thực tế hiện trạng vợ chồng ông D đang quản lý, sử dụng là 200,9m2 ở thửa 130 là nhiều hơn 31,9m2.
+ Diện tích đất ban đầu mà vợ chồng ông Mạo nhận chuyển nhượng và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 84m2 và nhận chuyển nhượng thêm phía sau chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 29,61m2. Tổng cộng là 113,61m2 (trong đó có 62,3m2 tranh chấp). Nhưng thực tế hiện trạng vợ chồng ông M đang quản lý, sử dụng là 117,5m2 là nhiều hơn 3,89m2.
Như vậy, diện tích đất hiện trạng thực tế do nguyên đơn và bị đơn đang quản lý, sử dụng đều nhiều hơn so với diện tích đất đã nhận chuyển nhượng ban đầu. Mặt khác, vợ chồng ông Mạo nhận chuyển nhượng và xây nhà ở từ năm 2009, nhưng các chủ đất cũ của ông D là ông S, bà Q không có ý kiến tranh chấp gì. Tại Biên bản làm việc (bút lục 315) ông Lê Tuấn N là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn (ông D, bà L) trình bày: “Trên diện tích đất tranh chấp có phần diện tích nhà ở của ông M. Ông D mua đất năm 2017, khi mua đã có nhà hiện hữu của ông M, bà L1. Cũng năm 2017 ông D đã xây dựng nhà sát nhà ông M”.
Thửa đất của nguyên đơn và bị đơn có nguồn gốc do năm 1993 vợ chồng ông Nguyễn Thanh G tự mở đường phân lô thành nhiều lô, trong đó có 02 lô hình chữ nhật của ông nguyên đơn và bị đơn nhận chuyển nhượng lại, nhưng theo sự chỉ ranh của nguyên đơn được Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B đo đạc ngày 25/3/2024 (bút lục 393) thể hiện: nếu cộng cả diện tích đất 62,3 m2 đất nguyên đơn cho rằng của nguyên đơn thì hình thể diện tích đất của nguyên đơn sẽ có hình chữ L mà không phải là hình chữ nhật như ban đầu nhận chuyển nhượng.
Do đó, vợ chồng ông D, bà L khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông M, bà L1 trả lại diện tích đất 48m2 (kết quả đo đạc thực tế là 62,3m2) tọa lạc tại Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là không có căn cứ.
Xét, tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: P803192 ngày 20/10/2000 do UBND tỉnh B cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T3; Ngày 18/12/2008 Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ đã chỉnh lý trang 4 sang tên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M bà Mai Thị Nghĩa L1 là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền, nên vợ chồng ông D, bà L yêu cầu hủy bỏ là không có căn cứ.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông D là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ khách quan có trong hồ sơ vụ án.
Ông D, bà L kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm nhưng không có chứng cứ nào mới nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do hiện trạng hiện nay các đương sự đang quản lý, sử dụng có diện tích lớn hơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp nên các đương sự nêu trên có quyền và nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xem xét chỉnh lý lại theo đúng quy định của pháp luật đất đai.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.
Án phí dân sự sơ thẩm: Xét nguyên đơn trong vụ án là ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L là hai đương sự trong vụ án. Theo quy định của pháp luật thì ông D và bà L mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ, tổng cộng là 600.000đ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc ông D và bà L phải chịu tổng cộng là 300.000đ là có thiếu sót nên cần sửa lại cho phù hợp với quy định của pháp luật.
Án phí dân sự phúc thẩm: Xét ông D và bà L mỗi người phải đóng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ Thông báo yêu cầu ông D và bà L đóng 300.000đ là có thiếu sót nên cần buộc ông D và bà L mỗi người phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L.
Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 19-4-2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số: 06a/QĐ-SCBSBA ngày 17-5-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Căn cứ Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 26, khoản 1, khoản 4 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 các Điều 180, 181, 182, 183, 186, 189, 190, 221 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L về buộc ông Nguyễn Văn M và bà Mai Thị Nghĩa L1 trả lại diện tích đất tranh chấp 48m2 (kết quả đo đạc thực tế là 62,3m2) tọa lạc tại phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (theo Sơ đồ đo đạc do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B lập ngày 25/3/2024) và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: P803192 ngày 20/10/2000 do UBND tỉnh B cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T3 đã được Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ đã chỉnh lý trang 4 ngày 18/12/2008 sang tên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M bà Mai Thị Nghĩa L1. Nguyên đơn và bị đơn có quyền và nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xem xét chỉnh lý lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật đất đai.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Hồng D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng); bà Vũ Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Hồng D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng); bà Vũ Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Số tiền án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm ông D và bà L phải chịu nêu trên được khấu trừ vào số tiền 7.500.000đ tạm ứng án phí sơ thẩm ông D, bà L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0005140 ngày 18/9/2018 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm ông D, bà L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0000614 ngày 20/6/2024 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Cục thi hành án Dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trả lại số tiền tạm ứng án phí còn lại cho ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L là 6.600.000₫ (sáu triệu, sáu trăm nghìn đồng).
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 801/2024/DS-PT ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 801/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Phạm Hồng D và bà Vũ Thị L kiện ông Nguyễn Văn M và bà Mai Thị Nghĩa L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
