Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 800/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06 – 9 – 2024

V/v Tranh chấp cấp dưỡng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

Ông Phạm Văn Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 601/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 về Tranh chấp cấp dưỡng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 836/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Cao H, sinh năm 1981; HKTT: D10/308E ấp D, xã Đ, huyện B, TP .; chỗ ở: D, ấp D, xã Đ, huyện B, TP .. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1985; HKTT: E14/334B, ấp E, xã P, huyện B, TP .; chỗ ở: E ấp E, xã P, huyện B, TP .. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các bản tự khai, các tài liệu khác trong quá trình tố tụng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bao gồm:

Năm 2011 tôi và bà Nguyễn Thị Mỹ N có đăng ký kết hôn với nhau, đến năm 2013 thì sinh cháu là Huỳnh Cao Nhã T. Do hôn nhân không hạnh phúc, chúng tôi ly hôn nhau tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tại Quyết định số 53/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16/10/2019 và Quyết định số 11/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01/03/2019. Tại bản án này, Tòa án giao cho tôi được quyền nuôi con. Lúc đó bà N cứ phá rối, bắt con về nhà mẹ ruột, gây khó dễ cho tôi nuôi dưỡng con. Mặt khác con đang bị bệnh tâm lý rối loạn hoảng sợ. Tôi cũng không muốn để con bị nặng hơn nên nghe lời tư vấn từ cô giáo của con “Con ở với ai cũng được, miễn thấy vui vẻ phát triển bình thường là được”. Nên tôi chấp thuận cho con ở với mẹ và đã thỏa thuận cấp dưỡng đóng tiền học phí cho con là 3 triệu đồng/ tháng và một tháng rước con về chơi ít nhất 1 lần. Hiện tại tôi đã lập gia đình mới, có cuộc sống riêng không dành nhiều thời gian cho con. Tuy nhiên việc thỏa thuận nêu trên bà N không chấp thuận nữa và đòi hỏi những việc vô lý, nếu không đáp ứng được thì gây rối cuộc sống của tôi, nhắn tin gây rối bạn bè tôi, ảnh hưởng đến tâm lý con.

Yêu cầu tòa án thay đổi quyền nuôi con Huỳnh Cao N1 Trúc từ tôi sang bà Nguyễn Thị Mỹ N. Số tiền cấp dưỡng là 3.000.000 đồng.

Trước phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện là: Phía nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, tôi không yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng nữa, tôi yêu cầu tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con. Cụ thể tôi yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ N phải cấp dưỡng nuôi trẻ Huỳnh Cao N1 Trúc là 3.000.000 đồng/ tháng, bắt đầu từ tháng 9/2024, việc cấp dưỡng thực hiện vào đầu tháng là ngày 01 hàng tháng, thực hiện cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi. Ngoài ra tôi không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì thêm. Về chi phí sinh hoạt của trẻ trung bình tầm khoảng 3.000.000 đồng/tháng, về tiền chi phí ăn học của con cũng trung bình khoảng 3.000.000 đồng/tháng, trách nhiệm thì hai bên như nhau nên cần chia sẻ trách nhiệm nuôi con với số tiền chu cấp là 3.000.000 đồng/tháng.

Theo Biên bản lấy lời khai, các tài liệu khác trong quá trình tố tụng, ý kiến của bị đơn như sau:

Tôi không đồng ý với yêu cầu của ông H. Nếu ông H không đủ điều kiện, khả năng nuôi con thì tôi vẫn nhận nuôi con, với điều kiện ông H chu cấp cho trẻ Huỳnh Cao Nhã T 5.000.000 đồng/ tháng và yêu cầu ông H trả số tiền xây dựng nhà là 300.000.000 đồng. Để có cơ sở để Tòa án xem xét tôi cũng trình bày những khó khăn của tôi, bình quân trung bình thu nhập của tôi là 8.000.000 đồng/ tháng, chi phí cho hàng tháng thuê nhà là 3.500.000 đồng/ tháng. Và tôi có mua tham gia bảo hiểm cho trẻ T là 15.000.000 đồng/ năm, bản thân tôi cũng có 02 cái bảo hiểm là khoảng 30.000.000 đồng/năm, cộng với những chi phí sinh hoạt của cá nhân ăn uống, bản thân tôi cũng đang có 01 khoản vay quỹ tín dụng CEP 50.000.000 đồng, hàng tháng tôi phải trả 4.100.000 đồng/tháng ... thì không đáp ứng được yêu cầu của ông H đề ra. Tuy nhiên về việc thăm nom bé thì bản thân tôi thực hiện đúng nghĩa vụ của người mẹ đáp ứng những yêu cầu nếu trẻ có yêu cầu.

Nếu trong quá trình chung sống với ông H mà bé T có ảnh hưởng về tâm lý thì ông H là người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc này. Còn nếu trường hợp bản thân ông H không có đủ điều kiện, không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của trẻ về ăn học thì giao về cho tôi trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, với điều kiện chu cấp cho trẻ T là 5.000.000 đồng/tháng cho đến lúc trẻ kết thúc học đại học. Và yêu cầu ông H hoàn trả số tiền 300.000.000 đồng mà tôi và ông H đã cùng nhau xây dựng căn nhà riêng hiện mà ông H đang sinh sống tại địa chỉ D ấp D, xã Đ, huyện B, TP ..

Tại phiên tòa:

Phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và bổ sung bản giải trình chi phí nuôi dạy trẻ, ngoài ra ông Huỳnh Cao H cung cấp các tài liệu đọc được không có công chứng, chứng thực.

Phía bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và bổ sung các tài liệu gồm: Bản chính Bảng thanh toán cho đối tượng thụ hưởng ngày 08/8/2024 của Trường Tiểu học B1; Bản sao có chứng thực Hợp đồng vay vốn số 20240116NHUNG879 ngày 16/01/2024; Bản sao có xác nhận của Ngân hàng V Bảng sao kê tài khoản thẻ tín dụng quốc tế V1 và Bản sao không có công chứng, chứng thực Hợp đồng thuê nhà trọ, Hợp đồng bảo hiểm số 33272931, 32176892, 35228475.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Do các đương sự cung cấp thêm một số tài liệu chứng cứ mới, nên không có ý kiến về nội dung vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn ông Huỳnh Cao H yêu cầu thay đổi quyền nuôi con, sau đó thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy trong vụ án này, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N có nơi cư trú tại địa bàn huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Khoản 5 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

[2] Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn: Ông Huỳnh Cao H thay đổi yêu cầu khởi kiện trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Cao H được chấp nhận xem xét giải quyết.

[3] Về việc bổ sung tài liệu chứng cứ của các đương sự sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án chưa ấn định thời hạn giao nộp các tài liệu chứng cứ chứng minh thu nhập, chi phí nuôi dưỡng trẻ nên về thời điểm mà các đương sự giao nộp chứng cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận việc giao nộp tài liệu, chứng cứ sau thời điểm mở phiên họp. Về giá trị chứng cứ: theo quy định tại Khoản 1 Điều 95 thì Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận các tài liệu là: Bản giải trình chi phí nuôi dạy trẻ do ông Huỳnh Cao H giao nộp; Bản chính Bảng thanh toán cho đối tượng thụ hưởng ngày 08/8/2024 của Trường Tiểu học B1; Bản sao có chứng thực Hợp đồng vay vốn số 20240116NHUNG879 ngày 16/01/2024; Bản sao có xác nhận của Ngân hàng V Bảng sao kê tài khoản thẻ tín dụng quốc tế V1 do bà Nguyễn Thị Mỹ N giao nộp; đối với các tài liệu còn lại, Hội đồng xét xử đánh giá không phải là chứng cứ.

[4] Về nội dung:

[5] Đối với yêu cầu thay đổi quyền nuôi con, phía nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

[6] Đối với yêu cầu về cấp dưỡng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[7] Theo quy định tại Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì:

“Điều 7. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình

1. Trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng thì Tòa án giải thích cho họ việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy người trực tiếp nuôi con có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện thì Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng cho con.

2. Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.

3. Trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng.

4. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không chung sống với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.

[8] Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 của Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, mức lương tối thiểu tháng tại 4 vùng được quy định như sau:

  • - Vùng I: 4.960.000 đồng/tháng;
  • - Vùng II: 4.410.000 đồng/tháng;
  • - Vùng III: 3.860.000 đồng/tháng;
  • - Vùng IV: 3.450.000 đồng/tháng.

[9] Căn cứ Phụ lục kèm theo Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ thì các quận, thành phố T và các huyện C, H, B, Nhà B thuộc Thành phố Hồ Chí Minh là vùng I, theo đó mức lương tối thiểu là 4.960.000 đồng/tháng. Một nửa của mức này là 2.480.000 đồng.

[10] Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bên không thỏa thuận được về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng. Do đó Tòa án sẽ căn cứ những quy định trên thì để quyết định mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng. Dựa trên nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của bà Nguyễn Thị Mỹ N, Hội đồng xét xử đánh giá yêu cầu cấp dưỡng của nguyên đơn ông Huỳnh Cao H là có cơ sở, nhưng về mức cấp dưỡng Hội đồng xét xử đánh giá về điều kiện kinh tế của bà Nguyễn Thị Mỹ N thì mức cấp dưỡng 2.480.000 đồng là phù hợp. Theo đó, mức cấp dưỡng mà bà Nguyễn Thị Mỹ N phải cấp dưỡng là 2.480.000 đồng/tháng, việc cấp dưỡng thực hiện theo phương thức hàng tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 09/2024, thời điểm thực hiện trước ngày 10 hàng tháng, việc cấp dưỡng thực hiện cho đến khi trẻ Huỳnh Cao Nhã T đủ 18 tuổi.

[11] Đối với ý kiến của bà Nguyễn Thị Mỹ N về việc thay đổi quyền nuôi con trong trường hợp ông Huỳnh Cao H không đủ điều kiện nuôi con và yêu cầu ông H trả lại số tiền đã cùng ông H dùng để xây nhà: trong quá trình chuẩn bị xét xử, bà N đã được Tòa án giải thích về nghĩa vụ thực hiện các thủ tục theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền phản tố nhưng bà N không thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bà N được quyền khởi kiện trong vụ án khác khi có yêu cầu.

[12] Về án phí: Do yêu cầu của ông Huỳnh Cao H được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho ông H số tiền tạm ứng án phí đã nộp

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 5 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147; Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Căn cứ Khoản 1 Điều 3 và Phụ lục kèm theo của Nghị định 74/2024/NĐ-CP của Chính phủ;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ vào Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Cao H đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ N phải cấp dưỡng nuôi trẻ Huỳnh Cao Nhã T; mức cấp dưỡng là 2.480.000 đồng/tháng, việc cấp dưỡng thực hiện theo phương thức hàng tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 09 năm 2024, thời điểm thực hiện trước ngày 10 dương lịch hàng tháng. Việc cấp dưỡng được thực hiện cho đến khi trẻ Huỳnh Cao Nhã T đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Huỳnh Cao H về việc “Thay đổi quyền nuôi con Huỳnh Cao N1 Trúc từ ông Huỳnh Cao H sang bà Nguyễn Thị Mỹ N. Số tiền cấp dưỡng là 3.000.000 đồng”.

3. Về án phí: Trả lại cho ông Huỳnh Cao H tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số: 5714 ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, TP .. Bà Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Ông Huỳnh Cao H, bà Nguyễn Thị Mỹ N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

- TAND TP.HCM;

- VKSND TP.HCM;

- VKSND huyện Bình Chánh, TP.HCM;

- Chi cục THADS huyện Bình Chánh, TP.HCM;

- Các đương sự;

- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 800/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH về tranh chấp cấp dưỡng

  • Số bản án: 800/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp cấp dưỡng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hiếu - Nhung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger