TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31-7-2024
V/v Huỷ kết hôn trái pháp luật
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Ninh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khiếu
- Bà Vũ Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 114/2024/TLST-HNGĐ ngày 24-5-2024 về việc “Huỷ kết hôn trái pháp luật” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 52/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18-7-2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Hoàng Thị A – sinh năm 1994
Địa chỉ: Tổ B, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái (vắng mặt, có lý do) - Bị đơn: anh Hoàng Văn H – sinh năm 1994
Địa chỉ: Tổ B, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái (vắng mặt, không lý do) - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái
Địa chỉ trụ sở: Tổ A, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái
Người đại diện: Bà Đỗ Thị Thanh T - Chức vụ: Phó chủ tịch UBND thị trấn Y (vắng mặt, có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 24-5-2024, các lời khai tiếp theo nguyên đơn Hoàng Thị A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Hoàng Văn H kết hôn vào ngày 31-5-2013 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H có mối quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác và vi phạm pháp luật. Hiện tại đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T1, tỉnh Phú Thọ.
Nay xác định tình cảm không còn, chị A yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: chị và anh H có 01 con là Hoàng Thị Khánh L, sinh ngày 14-11-2013, hiện đang ở cùng chị. Sau khi ly hôn, chị có yêu cầu là người được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản trình bày ý kiến ngày 29-6-2024 của chị Hoàng Thị A đề nghị Toà án huỷ kết hôn trái pháp luật với anh Hoàng Văn H, các yêu cầu khác chị giữ nguyên theo đơn khởi kiện.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt và lấy lời khai của bị đơn tại Trại giam T1, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Bị đơn Hoàng Văn H được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án, tuy nhiên từ chối không có ý kiến gì về các yêu cầu theo nội dung đơn khởi kiện của chị A.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái, người đại diện bà Đỗ Thị Thanh T trình bày:
Tại số C, trang số 41, sổ đăng ký kết hôn số 01-2013 lưu trữ tại UBND thị trấn Y có thông tin đăng ký như sau: Họ và tên người chồng: Hoàng Văn H, sinh ngày 29-10-1994. Nơi thường trú: thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái. Họ và tên người vợ: Hoàng Thị A, sinh ngày 08-7-1994. Nơi thường trú: xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái. Nơi đăng ký: UBND thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái. Ngày, tháng, năm đăng ký: 31 tháng 5 năm 2013.
Tại thời điểm đăng ký kết hôn do sơ suất của công chức Tư pháp – Hộ tịch trong quá trình kiểm tra hồ sơ thực hiện đăng ký kết hôn cho 2 công dân trên. UBND thị trấn Y cung cấp thông tin để Toà án có căn cứ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, đồng thời đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến cho rằng trong quá trình tố tụng, Tòa án và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử về nội dung vụ án như sau:
Căn cứ khoản 3, 4 Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000; Điều 3, 8, 11, 12, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06-01-2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình:
Về quan hệ hôn nhân: huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị A và anh Hoàng Văn H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 31-5-2013 của UBND thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Về con chung: giao con Hoàng Thị Khánh L cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật số tiền: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định lại là “Huỷ kết hôn trái pháp luật” đúng theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm b khoản 2 Điều 4 thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06-01-2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần 2. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị A và anh Hoàng Văn H kết hôn vào ngày 31 tháng 5 năm 2015 tại UBND thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái. Do quan hệ hôn nhân của chị A và anh H được xác lập trước ngày Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có hiệu lực (ngày 01-01-2015) nên căn cứ vào Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 để xác định việc kết hôn có trái pháp luật hay không. Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu xử lý việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Giấy chứng nhận kết hôn (bản gốc) do nguyên đơn cung cấp tại hồ sơ vụ án và tại số C, trang số 41, Sổ đăng ký kết hôn số 01-2013 lưu trữ tại UBND thị trấn Y có thông tin đăng ký như sau: Họ và tên người chồng: Hoàng Văn H, sinh ngày 29-10-1994. Căn cước công dân số: [...] và phiếu đăng ký cư trú của Công an thị trấn Y đều thể hiện: Hoàng Văn H, ngày, tháng, năm sinh: 29-10-1994.
Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định về điều kiện kết hôn “Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: 1. N từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên; ...”
Tại thời điểm đăng ký kết hôn bị đơn Hoàng Văn H chưa từ đủ hai mươi tuổi trở lên (18 tuổi 7 tháng 02 ngày); do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh H thuộc trường hợp tảo hôn và kết hôn trái pháp luật.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 4 thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06-01-2016 của Toà án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trường hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình”. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật, bị đơn không có ý kiến và người đại diện của UBND thị trấn Y, huyện L đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị A và anh Hoàng Văn H.
[3] Về con chung: chị A và anh H có 01 con là Hoàng Thị Khánh L, sinh ngày 14-11-2013. Căn cứ lời khai của nguyên đơn và kết quả xác minh của Tòa án, hiện tại con đang do chị A trực tiếp nuôi dưỡng có nơi ở và học tập ổn định. Mặt khác, anh H đang phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam. Con có nguyện vọng ở cùng mẹ.
Xuất phát từ lợi ích mọi mặt và nguyện vọng của con, theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần giao con cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp.
Chị A không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 3, 4, 8, 9, của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Căn cứ Điều 3, 8, 11, 12, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị A và anh Hoàng Văn H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 31-5-2013 của Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái, hai bên phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
- Về con chung: giao cho chị Hoàng Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là Hoàng Thị Khánh L, sinh ngày 14-11-2013 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: chị Hoàng Thị A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2023/0001738 ngày 24-5-2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị A đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Trần Đăng Ninh | |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh YB;
- - VKSND H. Lục Yên;
- - THADS H. Lục Yên;
- - UBND thị trấn Yên Thế;
- - Các đương sự;
- - Lưu: Hồ sơ, TA.
Bản án số 80/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI về huỷ kết hôn trái pháp luật
- Số bản án: 80/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Huỷ kết hôn trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị A ly hôn anh H
