Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/DS-ST

Ngày 31-5-2024

V/v tranh chấp thừa kế.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hữu Hiệp;

Ông Trần Huy Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Duy – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 và 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 390/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: 1. Ông Lê Thanh V, sinh năm: 1961 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp F, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

2. Ông Lê Chí D, sinh năm: 1960 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: 1. Ông Lê Văn N, sinh năm: 1982 (có mặt).

2. Bà Đỗ Hồng N1, sinh năm: 1994 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị H, sinh năm: 1977.

2. Bà Lê Thị Lệ Q, sinh năm: 1970.

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

(Bà H, bà Q vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 08/12/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các nguyên đơn ông Lê Chí D và ông Lê Thanh V cùng trình bày:

Cha mẹ ông là Lê Hoàng T và bà Phan Thị Bạch T1 có 01 phần đất diện tích 34.260 m² tại ấp A, xã K, huyện U. Năm 2014, cha mẹ các ông chết không để lại di chúc. Phần đất do em các ông là Lê Văn N và vợ là Đỗ Hồng N1 đang quản lý. Các ông có yêu cầu chia nhưng không thỏa thuận được nên ông yêu cầu Tòa án chia phần di sản của cha mẹ để lại thành 5 phần, đất tại ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau theo diện tích đo đạc thực tế hiện do ông Lê Văn N đang quản lý. Giao phần đất của các ông được chia để canh tác.

- Bị đơn ông Lê Văn N trình bày: Ông thống nhất chia phần di sản là đất thành 5 phần để chia cho các anh chị do đất của cha mẹ chết để lại. Tuy nhiên, khi chết thì còn khoản nợ Ngân hàng khi còn sống cha mẹ đã vay chưa trả, do vay đã lâu không thanh toán nên đã quá hạn, nên ông đã vay tiền bên ngoài trả cho Ngân hàng số tiền lãi và tiền gốc tổng cộng là 153.000.000 đồng vào năm 2022. Đến năm 2024, ông đã trả số tiền gốc vay 153.000.000 đồng và tiền lãi 137.700.000 đồng, tổng cộng là 290.700.000 đồng. Ông yêu cầu ai nhận phần đất thì trả lại ông số tiền nợ tương đương phần được hưởng do đây là nợ cha mẹ vay để lại và yêu cầu tính công chăm sóc cha mẹ và thờ cúng bằng 05 công đất bằng diện tích 6.480 m².

- Bị đơn bà Đỗ Hồng N1 trình bày: Bà yêu cầu ai nhận phần đất thì trả lại cho vợ chồng bà số tiền mà vợ chồng bà đã trả như ông N trình bày.

- Quá trình tố tụng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Lệ Q và bà Lê Thị H cùng trình bày: Cha mẹ mất năm 2014 khi cha mẹ mất thì không để lại di chúc. Khi mẹ cha còn sống cha mẹ còn sống thì có nói cho anh D 01 nền nhà và 05 công ruộng, anh hai tự đắp bờ canh tác. Sau đó vợ chồng anh hai đi làm thuê không canh tác trên đất đến khi cha mẹ mất và cho đến nay.

Phần đất là di sản nếu được chia, các bà từ chối nhận phần di sản của mẹ tôi để lại, phần được hưởng nhường lại cho em là Lê Văn N. Còn nhà trên đất hiện nay thì không có yêu cầu, vì chị em đã thỏa thuận sau này phần nền nhà chị em tôi sẽ tách giấy sau. Sau này chị em có tranh chấp thì yêu cầu sau.

Về phần nợ của cha mẹ vay của Ngân hàng chưa trả sau khi chết mà ông N đã trả xong, ông N có yêu cầu chia phần nợ này để trả lại cho ông N thì do phần đất đã nhường lại cho ông N thì nợ này ông N chịu.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Áp dụng các Điều 612, 613, 615, 616, 618, 620, 650, 651 Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Chí D và ông Lê Thanh V về yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với phần đất là di sản của ông Lê Hoàng T và bà Phan Thị Bạch T1 là diện tích đất 34.260m² (theo đo đạc thực tế là 36.287,2m²) tại ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 30/10/1995 do UBND huyện U cấp mang tên Lê Hoàng T. Sau khi trừ công chăm sóc, quản lý di sản, mồ mã 10% diện tích đất, di sản còn lại có diện tích 32.658,5 m². Chia di sản thừa kế cho ông D và ông V mỗi người 6.531,7 m². Ông Lê Chí D và ông Lê Thanh V có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Văn N mỗi người với số tiền là 39.743.280 đồng. Phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn N với tổng diện tích đất là 23.7237,8 m².

Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về lệ phí, án phí của Tòa án. Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất do cha mẹ của các nguyên đơn, bị đơn, tranh chấp được xác định là tranh chấp về thừa kế, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Hbà Q có yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng xét xử vắng mặt bà Hbà Q.

[2]. Về nội dung:

Tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất phần đất tranh chấp là của cha mẹ của các đương sự là ông Lê Hoàng T và bà Phan Thị Bạch T1 do ông Lê Hoàng T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 1995. Ông T và bà T1 chết năm 2014, không để lại di chúc, đây là sự thật không phải chứng minh. Đây là di sản của ông T và bà T1.

Phần đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế là 36.287,2m² tại ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (Theo bản trích đo hiện trạng ngày 01/4/2024 của Công ty TNHH T2).

Do ông T, bà T1 chết không có để lại di chúc nên phần di sản được chia theo pháp luật, hàng thừa kế thứ nhất gồm các con ruột của ông T, bà T1: Ông Lê Chí D, ông Lê Thanh V, bà Lê Thị Lệ Q, bà Lê Thị H và ông Lê Văn N (không có con nuôi). Do đó, việc ông D và ông V yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất mà cha mẹ để lại theo pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

Các đương sự thống nhất trừ phần đất mộ của ông bà bằng diện tích 500 m² khi phân chia, nên khi chia phân chia sẽ trừ diện tích mộ mà các đương sự đã thống nhất.

Ông N yêu cầu xem xét công chăm sóc và thờ cúng bằng 05 công đất trong phần diện tích phân chia và yêu cầu trả lại số tiền nợ của cha mẹ để lại mà ông đã thanh toán. Xét thấy, ông N là người chung sống với ông T và bà T1 chăm sóc cho ông T và bà T1 trước khi chết và quản lý di sản từ năm 2014 đến nay có công sức giữ gìn, chăm sóc di sản nên Hội đồng xét xử xem xét tính công sức cho ông N bằng 10% diện tích đất di sản khi phân chia. Theo đó, phần di sản còn lại là (36.287,2 m² - 3.628,72 m²- 500 m² (đất mộ)) 32.158,48 m², theo đó, mỗi người con của ông T và bà T1 được chia là 32.158,48 m²/5 = 6.431,69 m², tuy nhiên do có chênh lệch trên thực địa nên diện tích được nhận được làm tròn, cụ thể:

+ Phần đất CLN ông V và ông D mỗi người được chia có diện tích 732.15m², cụ thể phần đất ông V được chia có vị trí: Phía giáp đất ông Trương Văn V1 dài 48,81 mét, phía giáp kinh 9C dài 15 mét, phía giáp với phần đất chia cho ông D 48,81 mét, phía còn lại giáp phần đất chia cho ông N có chiều dài 15 mét; Phần đất của ông D được chia có vị trí: Phía giáp đất ông Lê Thanh V được chia dài 48,81 mét, phía giáp kinh 9C dài 15 mét, phía giáp với phần đất chia cho ông N dài 48,81 mét (phía có nhà bà H), phía còn lại giáp phần đất chia cho ông N có chiều dài 15 mét.

Phần đất nuôi trồng thủy sản (NTS) ông V và ông D mỗi người được chia diện tích 5.700 m², cụ thể phần đất ông V được chia có vị trí: phía giáp đất ông Nguyễn Minh D1 và phía đối diện giáp phần đất của ông D được chia dài 100 mét, phía giáp đất ông Nguyễn Văn Đ và phía đối diện giáp đất ông N được chia dài 57 mét; Phần đất ông D được chia có vị trí: phía giáp đất ông Lê Thanh V được chia và phía đối diện giáp phần đất của ông N được chia dài 100 mét, phía giáp đất ông Nguyễn Văn Đ, Đào Văn L, Lâm Mỹ C và phía đối diện giáp đất ông N được chia dài 57 mét. Diện tích ông V và ông D mỗi người được chia là 6432,15 m² tại ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

+ Bà Q và bà H có văn bản nhường phần di sản được chia cho ông N, theo đó, ông Lê Văn N được chia 3 phần tương đương diện tích 23.422,9 m² (bao gồm 500 m² đất mồ mã), có vị trí là phần đất còn lại sau khi trừ phần đất ông V, ông D được chia (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

- Về nghĩa vụ thanh toán của người để lại di sản: Các đương sự đều xác định, khi còn sống cha mẹ có vay Ngân hàng N2 chi nhánh H1, đến khi chết năm 2014 vẫn chưa thanh toán tiền vay cho Ngân hàng. Theo chứng từ giao dịch thể hiện ông N đã thanh toán cho Ngân hàng nông nghiệp với số tiền 153.000.000 đồng vào ngày 22/9/2022 trên cơ sở khoản vay của ông T và bà T1, đây là nghĩa vụ thanh toán của người để lại di sản nên những người nhận di sản của bà T1 và ông T có nghĩa vụ thanh toán phần nghĩa vụ tương ứng với di sản được nhận. Số tiền trả cho Ngân hàng vào tháng 9/2022 ông N cho rằng do đi vay của ông P lãi suất 5%/tháng, xét thấy việc ông N vay tiền để thanh toán nghĩa vụ của người để lại di sản và yêu cầu tính lãi đến thời điểm thanh toán xong là có căn cứ, tuy nhiên mức lãi suất các bên thỏa là vượt so với quy định của Bộ luật dân sự nên điều chỉnh mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự không quá 20%/năm, theo đó, lãi đến thời điểm trả nợ theo ông N trình bày là tháng 5/2024 là 18 tháng tiền lãi được điều chỉnh là 153.000.000 đồng x 1,66% x 18 tháng = 45.716.400 đồng, tổng cộng tiền gốc và lãi của khoản nợ vay là 153.000.000 + 45.716.400 = 198.716.400 đồng. Việc vay tiền và trả tiền thực hiện trong thời kì hôn nhân của ông N, bà N1; bà N1 cũng có yêu cầu thanh toán số tiền này lại cho vợ chồng, vì vậy, mỗi người nhận kỷ phần di sản thừa kế sẽ phải trả lại cho ông N, bà N1 số tiền 198.716.400 đồng/5 = 39.743.280 đồng. Do đó, buộc ông D, ông V mỗi người có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông N, bà N1 là 39.743.280 đồng. Nghĩa vụ của bà Q và bà H do đã nhường kỷ phần được nhận cho ông N nên ông N chịu phần nghĩa vụ này.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp như đã nhận định đã nêu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với phần đất mình được chia thì các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất theo quy định.

Theo kết quả thẩm định giá đối với đất NTS có giá là 50.000 đồng, đất CLN có giá là 60.000 đồng, đất ONT giá 120.000 đồng.

- Chi phí tố tụng gồm: Chi phí đo đạc số tiền 18.093.000 đồng, chi phí thẩm định giá số tiền 9.000.000 đồng, chi phí xem xét thẩm định tại chổ 200.000 đồng, tổng cộng 27.293.000 đồng. Các đương sự phải chịu tương ứng với tài sản được chia cụ thể ông V và ông D mỗi người chịu 5.458.600 đồng, ông N phải chịu là 16.375.800 đồng. Tại phiên toà, ông V xác định chi phí này do ông D gửi tiền để ông nộp nên ông V phải thanh toán cho ông D số tiền 5.458.600 đồng, ông N phải trả lại cho ông D số tiền 16.375.800 đồng.

- Về án phí: Án phí các đương sự phải chịu tương ứng với tài sản được chia. Ông D và ông V thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải nộp, ông N phải chịu án phí trên diện tích đất được chia là 23.422,9 m² (trừ đất phần mộ thỏa thuận) còn lại diện tích là 22.922,9 m² (đất ONT 300 m², đất CLN 4542,7 m², đất NTS 18079,3 m²) trừ nghĩa vụ phải thanh toán (39.743.280 đồng x 3 = 119.229.000 đồng) án phí phải chịu là 44.798.940 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 165, khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 612, 613, 615, 616, 623; từ Điều 649 đến Điều 651, 660 của của Bộ luật Dân sự và Điều 12, điểm a, b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn đối với bị đơn về việc chia thừa kế quyền sử dụng đất.

Quyền sử dụng đất được xác định là di sản của ông Lê Hoàng T và bà Phan Thị Bạch T1 có tổng diện tích 36.287,2 m² tại ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Ông Lê Thanh V và ông Lê Chí D mỗi người được chia phần đất CLN có diện tích 732.15m², cụ thể phần đất ông V được chia có vị trí: Phía giáp đất ông Trương Văn V1 dài 48,81 mét, phía giáp kinh 9C dài 15 mét, phía giáp với phần đất chia cho ông D 48,81 mét, phía còn lại giáp phần đất chia cho ông N có chiều dài 15 mét; Phần đất của ông D được chia có vị trí: Phía giáp đất ông Lê Thanh V được chia dài 48,81 mét, phía giáp kinh 9C dài 15 mét, phía giáp với phần đất chia cho ông N dài 48,81 mét (phía có nhà bà H), phía còn lại giáp phần đất chia cho ông N có chiều dài 15 mét.

- Phần đất nuôi trồng thủy sản ông V và ông D mỗi người được chia diện tích 5.700 m², cụ thể phần đất ông V được chia có vị trí: phía giáp đất ông Nguyễn Minh D1 và phía đối diện giáp phần đất của ông D được chia dài 100 mét, phía giáp đất ông Nguyễn Văn Đ và phía đối diện giáp đất ông N được chia dài 57 mét; Phần đất ông D được chia có vị trí: phía giáp đất ông Lê Thanh V được chia và phía đối diện giáp phần đất của ông N được chia dài 100 mét, phía giáp đất ông Nguyễn Văn Đ, Đào Văn L, Lâm Mỹ C và phía đối diện giáp đất ông N được chia dài 57 mét. Tổng diện tích ông V và ông D mỗi người được chia là 6432,15 m² tại ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (kèm theo kết quả đo đạc và sơ đồ chia tách).

+ Ông Lê Văn N được chia diện tích 23.422,9 m² phần đất tại ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau, có vị trí là phần đất còn lại sau khi trừ phần đất ông V, ông D được chia (kèm theo kết quả đo đạc và sơ đồ chia tách).

Đối với phần đất mình được chia thì các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất theo quy định.

- Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn N về việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi phân chia thừa kế. Buộc ông Lê Chí D, ông Lê Thanh V mỗi người có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Văn N và bà Đỗ Hồng N1 là 39.743.280 (Ba mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi ba ngàn, hai trăm tám mươi) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi thi hành số tiền nêu trên thì còn phải chịu tiền lãi chậm trả với mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[2]. Buộc ông Lê Thanh V phải thanh toán cho ông Lê Chí D chi phí tố tụng số tiền 5.458.600 (Năm triệu, bốn trăm năm mươi tám ngàn, sáu trăm) đồng, ông Lê Văn N phải trả lại cho ông Lê Chí D số tiền 16.375.800 (Mười sáu triệu, ba trăm bảy mươi lăm ngàn, tám trăm) đồng.

[3]. Án phí dân sự sơ thẩm các nguyên đơn được miễn do thuộc trường hợp được miễn.

Ông Lê Văn N phải chịu án phí là 44.798.940 (Bốn mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi tám ngàn, chín trăm bốn mươi) đồng.

[4]. Án xử sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện U;
  • - Chi cục THADS huyện U;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Việt Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia thừa kế

  • Số bản án: 80/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông V và ông D yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất cha mẹ chết không có di chúc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger