|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2024/DS-ST
Ngày: 30 – 05 - 2024
“V/v: “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất nông nghiệp”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Hà
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 195/2023/TB- TLVA ngày 20/10/2023 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất nông nghiệp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-DS ngày 10/05/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/QĐHPT-ST ngày 24/05/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm 1959
Địa chỉ thường trú: Đ, thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội. - Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967
Địa chỉ thường trú: Đội 12, xã V, huyện H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Tiến T: Ông Đặng Minh T1, sinh năm 1976; nơi đăng ký HKTT: xóm E, G, tổ B, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội (theo Giấy uỷ quyền công chứng số: 13728, quyền số 01/2023TP/CC-SCC-HĐGD ngày 20/11/2023 tại Văn phòng C).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L: Luật sư Trần Quyết T2 – Công ty L1 – Đoàn Luật sư Thành phố H.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến T3 (tên gọi khác: T4)
Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Đội 7, thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy Ban nhân dân xã T, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội
Địa chỉ: xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hà Văn N – Chủ tịch UBND xã. - Bà Tống Thị H, sinh năm 1977 (vợ ông T3).
Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Đội 7, thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
* Tại phiên tòa:
- + Có mặt Ông Đặng Minh T1, ông Nguyễn Tiến T3, Luật sư Trần Quyết T2 .
- + Vắng mặt: Bà Tống Thị H.
- + Ủy Ban nhân dân xã T, huyện C có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn (ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L) – Ông Đặng Minh T1 trình bày:
Năm 1999, gia đình ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L có 04 nhân khẩu gồm: Ông Nguyễn Tiến Y (bố ông T, bà L), bà Nguyễn Thị T5 (mẹ ông T, bà L) và 02 con là Nguyễn Tiến T và Nguyễn Thị L đã được giao đất nông nghiệp theo chủ trương chung của địa phương.
Đến năm 2014, thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa, Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn T, xã T đã giao cho ông Nguyễn Tiến T3 (tức T4 - là cháu nội của cụ Nguyễn Tiến Y) diện tích 1.182m² đất nông nghiệp (theo Biên bản giao đất ngày 08/01/2014). Tuy nhiên, trong biên bản giao đất cho ông Nguyễn Tiến T3 chưa có phần diện tích đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L.
Năm 2014, ông T, bà L đã đề nghị Ủy ban nhân dân xã T, huyện C thực hiện việc giao đất nông nghiệp cho ông T, bà L diện tích đất được chia theo tiêu chuẩn của chính sách dồn điền đổi thửa tại địa phương và Ủy ban nhân dân xã T đã giao cho Tiểu B dồn điền đổi thửa xem xét trả lại cho ông T, bà L thửa đất diện tích 460m² tại khu Đ, thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
Ngày 24/6/2017, UBND xã T có Biên bản làm việc thống nhất với Tiểu B dồn điền đổi thửa thôn T, xã T giao trả cho ông T, bà L diện tích 460m² đất nông nghiệp tại khu Đ, thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội. Nhưng do ông T, bà L đi làm ăn xa nhà, không có điều kiện làm thủ tục nhận bàn giao diện tích đất nên ông T, bà L đã uỷ quyền cho ông Nguyễn Tiến T3 (cháu ruột của ông T, bà L) thay mặt ông T, bà L làm thủ tục nhận diện tích 460m² đất nông nghiệp tại khu Đ, thôn T, xã T, huyện C.
Ngày 10/7/2017, đại diện UBND xã T và T dồn điền đổi thửa thôn T đã bàn giao cho ông Nguyễn Tiến T3 thửa đất nông nghiệp có diện tích 460m2 tại Khu Đ, thôn T, xã T, huyện C theo Biên bản xác định vị trí và giao ruộng tại thực địa hồi 08 giờ 30 phút ngày 10/7/2017. Tuy nhiên, sau khi anh T3 nhận đất thay ông T, bà L cho đến nay ông T, bà L chưa được anh T3 bàn giao lại diện tích đất nói trên mà anh T3 đã tự ý quản lý, sử dụng.
Ông T, bà L đã nhiều lần đề nghị và có văn bản chính thức yêu cầu anh T3 thực hiện việc bàn giao lại diện tích 460m² đất nông nghiệp tại khu Đ, thôn T, xã T, huyện C mà ông T3 đã nhận thay ông T, bà L. Tuy nhiên, cho đến nay anh T3 đã không thực hiện việc trả lại ông T, bà L diện tích đất trên và cũng có bất kỳ phản hồi nào trước yêu cầu của ông T, bà L.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông T, bà L đã có đơn đề nghị UBND xã T thực hiện giải quyết tranh chấp. Tại buổi hòa giải được UBND xã T tổ chức vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 30/6/2023, anh T3 thừa nhận đã nhận diện tích đất nêu trên thay cho ông T, bà L nhưng không đồng ý giao trả ông T, bà L với lý do để anh T3 chờ nhận thêm 260m² đất ở khu Đ (diện tích đất còn thiếu) thì sẽ giao trả lại cho ông T, bà L luôn một thể.
Việc UBND xã T thực hiện theo chính sách chung của Nhà nước đã giao thửa đất nông nghiệp có diện tích 460m² tại khu Đ, thôn T, xã T, huyện C cho anh T3 nhận với tư cách đại diện theo ủy quyền của ông T, bà L là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật và theo ý chí ủy quyền của ông T, bà L (Theo Văn bản ủy quyền ngày 15/8/2017 và Biên bản xác định vị trí và giao ruộng tại thực địa ngày 10/7/2017 và Biên bản làm việc ngày 11/01/2023).
Tuy nhiên, lẽ ra sau khi anh T3 thực hiện việc nhận đất được giao theo ủy quyền của ông T, bà L thì anh T3 phải bàn giao lại đất cho ông T, bà L nhưng anh T3 đã không thực hiện trả lại cho ông T, bà L mà tự ý quản lý, sử dụng khi không được sự đồng ý của ông T, bà L là xâm phạm đến quyền lợi của ông T, bà L đối với diện tích đất được Ủy ban nhân dân xã T giao trả.
Việc anh T3 lại đưa ra quan điểm phải chờ đến khi thực hiện xong việc đòi thêm 260m² đất thì mới trả lại ông T, bà L là trái với ý chí của ông T, bà L và có ý không muốn trả lại đất cho ông T, bà L. Ông T, bà L uỷ quyền cho ông T3 được xác lập từ năm 2017, đến nay đã được 06 năm, theo quy định tại điều 563 Bộ luật Dân sự năm 2015 văn bản uỷ quyền đã hết hiệu lực (thời hạn của Hợp đồng uỷ quyền là 01 năm kể từ ngày xác lập). Đồng thời, nội dung của văn bản uỷ quyền cho anh T3 là chỉ thay mặt ông T, bà L nhận bàn giao thửa đất 460m² đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn, ông T, bà L không uỷ quyền cho anh T3 quản lý và sử dụng thửa đất này. Do vậy, việc anh T3 tự ý quản lý sử dụng thửa đất của ông T, bà L là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T, bà L đối với thửa đất.
Do việc hòa giải, giải quyết tranh chấp giữa ông T, bà L và anh T3 không thành, nên ông T, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án Nhân dân huyện Chương Mỹ, xem xét giải quyết và đề nghị Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ:
Xác định diện tích 460m² đất nông nghiệp tại khu Đ, thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội do anh Nguyễn Tiến T3 nhận thay ông T, bà L theo Biên bản xác định vị trí và giao ruộng tại thực địa ngày 10/7/2017 do Ủy ban nhân dân xã T thực hiện thuộc quyền sử dụng đất của ông T, bà L.
Buộc anh T3 (tức T4) trả lại cho ông T, bà L diện tích 460m² đất nông nghiệp tại khu Đ, Thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội .
* Bị đơn - Anh Nguyễn Tiến T3 trình bày:
Anh Nguyễn Tiến T3 là cháu của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L. Năm 2013, khi địa phương thực hiện chính sách dồn điền đồi thửa, gia đình anh T3 được dồn ruộng vào một ô thửa to nhưng lúc đó nhà anh T3 chỉ nhận được 07 tiêu chuẩn đất nông nghiệp. Sau khi anh T3 xem xét lại giấy tờ nhà anh T3 thì thấy rằng UBND xã T đã giao thiếu 02 khẩu đất nông nghiệp (đất ruộng) của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L. Anh T3 đã nói chuyện với ông T và bà L là hiện tại thiếu ruộng đất của ông T và bà L và bảo ông T và bà L đi đòi UBND xã T, huyện C. Ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L đã đi đòi nhiều lần nhưng không được nên ông T, bà L đã làm Giấy uỷ quyền để cho anh T3 đi đòi đất diện tích đất mà ông T, bà L chưa được giao và còn nói miệng với anh T3 là nếu đòi được thì ông T, bà L sẽ cho anh T3. Anh T3 đã đến UBND xã nhiều lần để làm việc và phải mất rất nhiều thời gian, công sức thì mới được UBND xã T giao trả diện tích 460m² đất nông nghiệp của ông T, bà L tại khu Q, thôn T, xã T, huyện C, còn 260m² đất nữa của ông T và bà L thì UBND xã T chưa giao trả. Việc ông T, bà L bảo khi đòi được sẽ cho anh T3 đất thì chỉ nói bằng miệng chứ không lập văn bản.
Hiện nay diện tích 460m² đất nông nghiệp của ông T, bà L tại khu Đ, thôn T, xã T, huyện C thì anh T3 và vợ là chị Tống Thị H, đang quản lý, sử dụng và chỉ cấy lúa.
Thời điểm giao diện tích đất nông nghiệp là ruộng bậc thang, anh T3 phải thuê máy xúc về san cho phẳng. Anh T3 không nhớ là thuê hết bao nhiêu tiền nhưng ngoài thuê máy xúc thì anh T3 còn bỏ nhiều công sức vào thửa đất. Từ năm 2017, sau khi thay mặt ông T, bà L nhận diện tích 460m² đất thì anh T3 có canh tác trồng lúa nên đã phải đóng sản cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C.
Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (ông T + bà L), quan điểm của anh T3 là: Anh T3 đề nghị UBND xã T phải trả nốt số diện tích 260m² còn thiếu của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L và sau đó gia đình anh T3 phải họp gia đình lại để bàn bạc giải quyết đối với việc trả lại diện tích đất cho ông T, bà L.
Trường hợp đến nay ông T, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu đòi anh T3 trả lại đất thì anh T3 đề nghị ông T, bà L phải trả anh T3 tiền công sức anh T3 đi đòi đất hộ ông T, bà L. Thời điểm đi đòi đất cho ông T, bà L tính từ thời điểm ông T uỷ quyền cho anh T3 từ ngày 28/02/2014 và bà L uỷ quyền cho anh T3 từ ngày 11/03/2014 cho đến ngày 10/7/2017. Thời điểm uỷ quyền của ông T, bà L thì lúc đó anh T3 làm hai công việc một lúc là đi chợ vào sáng sớm thu nhập là 1.000.000 đồng/ngày và anh T3 làm thủ kho tại Nhà phân phối Kinh Bắc thu nhập là 12.000.000 đồng/tháng. Việc anh T3 đi đòi đất đã dẫn đến mất hết thu nhập hàng ngày của anh T3.
Trong khoảng thời gian anh T3 đi đòi đất cho ông T, bà L thì anh T3 không làm được các công việc khác. Sau khi nhận được ruộng thì anh T3 phải san nền và phải đóng thuế sử dụng đối với diện tích đất đó.
Đến nay anh T3 đề nghị Toà án xem xét, bảo vệ quyền lợi cho anh T3 về toàn bộ công sức anh T3 bỏ ra đi đòi đất, quản lý đất hộ ông T và bà L.
Đến nay, quan điểm của anh T3: Căn cứ giấy ủy quyền ngày 11/3/2014 của bà Nguyễn Thị L ủy quyền cho anh T3 và thỏa thuận của hai bên về việc ủy quyền cho anh T3 làm các thủ tục đề nghị UBND xã T cấp đất ruộng theo nhân khẩu của bà L và ông T (vì lý do ông T và bà L đi đòi nhiều lần mà không được nên đã nhờ vợ chồng anh T3 nhờ đòi hộ đất).
Năm 2014, khi nhận được sự ủy quyền của bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Tiến T gia đình anh T3 bắt tay vào việc làm các thủ tục báo cáo và đề xuất với UBND xã T từ 01/4/2014 đến ngày 24/6/2017 là ngày anh T3 nhận được biên bản giao ruộng tại khu Đ, thôn T, xã T. Trong thời gian trên anh T3 phải nghỉ việc làm không có thu nhập cụ thể như sau.
- + Năm 2014 từ 01/4/2014 đến 31/12/2014. Tổng số 275 ngày. Trong đó trừ ngày nghỉ lễ và ngày nghỉ thứ 7, chủ nhật là 80 ngày vậy thời gian nghỉ việc năm 2014 là: 195 ngày.
- + Năm 2015 có 365 ngày. Trong đó trừ ngày nghỉ lễ và ngày nghỉ thứ 7, chủ nhật là 107 ngày vậy thời gian nghỉ việc năm 2015 là: 251 ngày.
- + Năm 2016 có 366 ngày. Trong đó trừ ngày nghỉ lễ và ngày nghỉ thứ 7, chủ nhật là 118 ngày vậy thời gian nghỉ việc năm 2016 là: 248 ngày.
- + Năm 2017 bắt đầu từ tháng 1/2017 đến 31/5/2017 là 151 ngày. Trong đó trừ ngày nghỉ lễ và ngày nghỉ thứ 7, chủ nhật là 46 ngày vậy thời gian nghỉ việc năm 2017 là: 105 ngày.
Như vậy, tổng cộng số ngày nghỉ việc không có thu nhập của anh T3 từ 01/4/2014 đến 31/5/2017 là 799 ngày. Mỗi ngày thu nhập 1.000.000 đồng/ ngày. Vì vậy, anh T3 bị mất khoản thu nhập 799 ngày x 1.000.000 đồng/ ngày = 799.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm chín mươi chín triệu đồng). Vậy anh T3 đề nghị Toà án xem xét giải quyết khoản tiền công bị mất trong thời gian anh T3 đi đòi đất cho ông T, bà L.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ủy ban nhân dân xã T có văn bản trình bày:
Năm 2015, UBND xã T nhận được đơn đề nghị của anh Nguyễn Tiến T3 (anh T3 là người được ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L ủy quyền) với nội dung: Đề nghị UBND xã T xem xét giải quyết giao trả cho ông T, bà L 02 khẩu đất nông nghiệp của ông T và bà L theo kết quả đã được UBND xã T giải quyết năm 2014.
Sau khi nhận được đơn của anh Nguyễn Tiến T3, UBND xã đã tiến hành kiểm tra, rà soát hồ sơ, đồng thời mở các hội nghị làm việc với các cá nhân có liên quan để kiểm tra xác minh kết quả cho thấy: Năm 1993, ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L được giao ruộng theo tiêu chuẩn Nghị định 64/CP năm 1993, tiêu chuẩn mỗi khẩu được giao 360m². Tuy nhiên, khi thực hiện dồn điền đổi thửa, Tiểu ban DĐĐT thôn T chưa giao ruộng cho 02 khẩu của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L. Sau khi có kết quả kiểm tra xác minh, UBND xã đã tổ chức hội nghị làm việc với Tiểu ban DĐĐT thôn T, xã T và thống nhất giao trả 02 khẩu của ông T và bà L diện tích 720m² trong đó: 460m² giao ở đồng Q và 260m² giao ở Đ (còn gọi là Đồng Thầu).
Ngày 10/7/2017, UBND xã đã tiến hành giao tại thực địa khu đồng Quán Chúc diện tích 460m² cho anh Nguyễn Tiến T3 (anh T3 là người được ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L ủy quyền) là người đại diện nhận ruộng. Còn diện tích 260m2 ở Đồng Cốc UBND xã chưa giao.
* Tại phiên tòa:
- + Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đặng Minh T1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông T1 cho rằng việc anh T3 thay mặt ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L nhận diện tích đất nông nghiệp do Ủy ban nhân dân xã T giao trả là trên cơ sở ủy quyền của ông T, bà L. Sau khi nhận diện tích đất được giao trả thì công việc anh T3 được ủy quyền đã hoàn thành nên anh T3 phải có trách nhiệm giao lại diện tích đất đã nhận cho ông T, bà L quản lý, sử dụng. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của ông T, bà L là hoàn toàn có căn cứ. Việc anh Nguyễn Tiến T3 nhận sự ủy quyền của ông T, bà L đi đòi đất và đứng ra thay mặt ông T, bà L nhận diện tích đất nông nghiệp thì anh T3 cũng có công sức đối với diện tích đất. Tuy nhiên, việc anh T3 cho rằng anh T3 phải nghỉ làm 799 ngày để đi đòi đất cho ông T, bà L là không có căn cứ vì sau khi ông T, bà L có ý kiến với Ủy ban nhân dân xã T về việc thiếu đất theo tiêu chuẩn thì Ủy ban nhân dân xã T đã tiến hành ra soát để có phương án trả đất theo tiêu chuẩn của ông T, bà L. Do vậy, ông T, bà L chỉ đồng ý thanh toán cho anh T3 số tiền khoảng 20 triệu đồng. Còn về việc anh T3 đóng sản (thuế sử dụng đất) cho địa phương thì anh T3 và gia đình canh tác trên diện tích đất, thu hoa màu trên đất thì trách nhiệm nộp sản cho địa phương thuộc về anh T3.
- + Bị đơn – Anh Nguyễn Tiến T3 giữ nguyên quan điểm như đã trình bày, anh T3 thừa nhận diện tích 460m² đất là đất theo tiêu chuẩn của ông T, bà L mà anh T3 là người nhận sự ủy quyền của ông T, bà L đứng ra nhận đất do Ủy ban nhân dân xã T giao. Anh T3 cho rằng Ủy ban nhân dân xã T bàn giao nhưng vẫn còn thiếu 260m² đất theo tiêu chuẩn của ông T, bà L. Anh T3 có quan điểm khi nào anh T3 nhận nốt 260m² đất do Ủy ban nhân dân xã T giao trả thì sẽ bàn giao toàn bộ cho ông T, bà L. Còn nếu ông T, bà L đòi lại ngay diện tích 460m² thì ông T, bà L phải thanh toán tiến công sức cho anh T3 theo yêu cầu của anh T3 là 799 triệu đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án, Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Tống Thị H (vợ anh T3) chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án
Về nội dung:
Sau khi phân tích, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Nguyễn Tiến T3 phải bàn giao trả lại cho ông Nguyễn Tiến T, bà Nguyễn Thị L diện tích 460m² đất nông nghiệp tại khu Đ, thôn T, xã T, huyện C. Ông T, bà L phải thanh toán tiền công sức cho anh Nguyễn Tiến T3 đối với diện tích đất bằng tiền theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền:
Tranh chấp giữa các đương sự liên quan đến diện tích đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C giao trả theo tiêu chuẩn nên xác định tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp Dân sự và là “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất nông nghiệp”. Bị đơn là anh Nguyễn Tiến T3 (tên gọi khác: T4) có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội và diện tích đất có địa chỉ tại xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp Dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
[1.2] Về người tham gia tố tụng:
Tranh chấp giữa các bên đương sự có liên quan đến diện tích đất nông nghiệp được cấp theo tiêu chuẩn của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L. Sau khi anh Nguyễn Tiến T3 thực hiện việc đòi đất theo sự ủy quyền của ông T, bà L thì vợ chồng anh Nguyễn Tiến T3, bà Tống Thị H (vợ ông T3) đã tiến hành quản lý diện tích đất và canh tác cũng như cải tạo đất. Do vậy, Tòa án đưa Ủy ban nhân dân xã T và bà Tống Thị H (vợ ông T3) vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
[1.2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân xã T đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Tống Thị H (vợ anh Nguyễn Tiến T3) vắng mặt nhưng đã có anh T3 là người đại diện và đây là phiên tòa lần thứ 02 nên việc vắng mặt của chị H không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ kiện:
Năm 1999, ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L được địa phương giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64 của Chính phủ và theo chủ trương chung của địa phương. Đến năm 2014, thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa, Ủy ban nhân dân xã T đã tiến hành giao đất cho các hộ dân theo tiêu chuẩn của địa phương. Tuy nhiên, tiêu chuẩn đất nông nghiệp của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L chưa được địa phương xem xét, giải quyết. Sau khi tiếp nhận ý kiến đối với diện tích đất theo tiêu chuẩn của ông T, bà L. Ủy ban nhân dân xã T đã tiến hành giao trả cho ông T, bà L diện tích 460m² đất tại khu Đ, còn 260m² đất ở khu Đ địa phương chưa giao trả cho ông T, bà L trên thực tế.
Việc Ủy ban nhân dân xã T, huyện C giao trả diện tích 460m² đất tại khu Đ Chúc cho ông T, bà L được thực hiện thông qua anh Nguyễn Tiến T3 là cháu của ông T, bà L và là người được ông T, bà L ủy quyền thay mặt ông T, bà L đi nhận diện tích đất theo tiêu chuẩn của ông T, bà L chưa được Ủy ban nhân dân xã T giao trong quá trình thực hiện phương án dồn điền đổi thửa.
Đối với diện tích đất theo tiêu chuẩn của ông T, bà L chưa được giao trong giai đoạn Ủy ban nhân dân xã T thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa là có thật, Ủy ban nhân dân xã T và tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn T, xã T, huyện C đều thừa nhận tiêu chuẩn của ông T, bà L chưa được địa phương giao khi dồn điền đổi thửa. Do vậy, sau khi có ý kiến của ông T, bà L do anh Nguyễn Tiến T3 là người đại diện theo ủy quyền, ngày 10/7/2017 Ủy ban nhân dân xã T và tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn T, xã T đã tiến hành giao đất cho ông T, bà L do anh Nguyễn Tiến T3 là người đại diện theo ủy quyền đứng ra nhận diện tích đất tại khu Đ Chúc với diện tích thửa đất là 460m² có các mặt tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp mương tiêu dài 8,61m; phía Nam giáp đường đất dài 8,61m; phía Đông giáp đất công dài 53,4m; phía Tây giáp đất của hộ ông Tống Quang B1 dài 53,4m (theo Biên bản xác định vị trí và giao ruộng tại thực địa ngày 10/7/2017 giữa Ủy ban nhân dân xã T và tiểu ban dồn điền đổi thửa xã T với anh Nguyễn Tiến T3 là người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà L).
Do vậy, đến nay ông Nguyễn Tiến T, bà Nguyễn Thị L yêu cầu anh Nguyễn Tiến T3 bàn giao lại diện tích đất mà ông T, bà L được Ủy ban nhân dân xã T giao theo tiêu chuẩn là có căn cứ.
Anh Nguyễn Tiến T3 cho rằng anh T3 nhận sự ủy quyền của ông T, bà L đi đòi diện tích đất theo tiêu chuẩn có ông T, bà L. Đến nay anh T3 mới đòi được 460m², còn 260m² đất ở khu Đ chưa được Ủy ban nhân dân xã T bàn giao. Do vậy, theo anh T3 thì đến khi nào anh T3 nhận nốt 260m² đất tại khu Đ thì anh T3 sẽ giao trả lại cho ông T, bà L. Hội đồng xét xử nhận thấy: Diện tích đất theo tiêu chuẩn của ông T, bà L đã được Ủy ban nhân dân xã T bàn giao, anh T3 là người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà L đứng ra nhận nên sau khi nhận diện tích đất thì anh T3 phải có trách nhiệm bàn giao trả cho ông T, bà L. Mặt khác, nội dung ủy quyền theo Giấy của quyền ngày 15/8/2017 của ông Nguyễn Tiến T ủy quyền cho anh Nguyễn Tiến T3 và Giấy ủy quyền ngày 28/02/2014 của bà Nguyễn Thị L ủy quyền cho anh Nguyễn Tiến T3 đều không thể hiện nội dung giàng buộc khi nào đòi đủ đất thì các bên mới thực hiện việc bàn giao đất. Do vậy, anh Nguyễn Tiến T3 phải có trách nhiệm bàn giao lại diện tích 460m² đất tại khu Đ Chúc cho ông T, bà L quản lý, sử dụng.
Về công sức đối với diện tích đất: Anh Nguyễn Tiến T3 nhận sự ủy quyền của ông T, bà L đi đòi đất và thay mặt ông T, bà L nhận diện tích đất là có công sức đối với diện tích đất của ông T, bà L. Tuy nhiên, anh Nguyễn Tiến T3 yêu cầu được thanh toán số tiền công trong những ngày đi đòi đất là 799.000.000 đồng là không có cơ sở. Bởi lẽ, giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường tại thời điểm định giá là 500.000 đồng/m². Tổng giá trị quyền sử dụng đất là: 460m² x 500.000 đồng/m² = 230.000.000 đồng.
Anh Nguyễn Tiến T3 cho rằng anh phải nghỉ việc để dành thời gian đi đòi đất trong thời gian là 799 ngày. Tuy nhiên, các tài liệu anh T3 xuất trình là bảng lương và quyết định thôi việc của anh T3 thể hiện ngày 10/7/2017 là ngày Ủy ban nhân dân xã T bàn giao diện tích 460m² đất cho anh Nguyễn Tiến T3, giấy uỷ quyền của ông Nguyễn Tiến T cho anh T3 được xác lập ngày 28/02/2014 và giấy uỷ quyền bà Nguyễn Thị L uỷ quyền cho anh T3 được xác lập ngày 11/03/2014, ngày anh Nguyễn Tiến T3 nghỉ việc tại Công ty TNHH T6 là ngày 01/6/2017 (theo Quyết định về việc cho thôi việc của Công ty TNHH T6 do anh Nguyễn Tiến T3 xuất trình). Do vậy, đến nay anh T3 cho rằng anh phải nghỉ việc từ năm 2014 đến năm 2017 để dành thời gian đi thực hiện việc đòi đất cho ông T, bà L theo sự uỷ quyền của ông T, bà L là không có cơ sở. Mặt khác, trên thực tế thì tiêu chuẩn đất nông nghiệp của ông T, bà L được Ủy ban nhân dân xã T rà soát để cấp bù sau khi có ý kiến của ông T, bà L. Do vậy, mặc dù có việc anh T3 nhận sự uỷ quyền của ông T, bà L đi nhận diện tích đất theo tiệu chuẩn và anh T3 có công sức đối với diện tích đất nhưng anh T3 đòi ông T, bà L thanh toán tiền công sức là 799 triệu là không có căn cứ.
Hội đồng xét xử xem xét công sức của ông Nguyễn Tiến T3 bằng giá trị khoảng 35.000.000 đồng là phù hợp với thời gian anh T3 bỏ ra để thay mặt ông T, bà L nhận bàn giao diện tích đất.
Anh Nguyễn Tiến T3 cho rằng trong quá trình quản lý diện tích đất ông phải nộp thuế sử dụng đất thay cho ông T, bà L. Xét thấy, sau khi nhận bàn giao đất anh T3 và vợ đã tiến hành canh tác trên diện tích đất nên trách nhiệm nộp thuế sử dụng đất sẽ được tính vào hoa màu mà vợ chồng anh T3 thu hoạch được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí:
- + Ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự trên số tiền công sức thanh toán cho ông Nguyễn Tiến T3.
- + Anh Nguyễn Tiến T3 yêu cầu ông Nguyễn Tiến T, bà Nguyễn Thị L thanh toán số tiền 799.000.000 đồng, nhưng yêu cầu của anh T3 được xác định là ý kiến của anh T3, không phải là yêu cầu phản tố do vậy anh T3 không phải chịu án phí đối với khoản tiền không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 54, Điều 166, Điều 170, Điều 179 Luật đất đai năm 2013Điều 166, Điều 203 Bộ luật dân sự 2015Điều 361, Điều 362, Điều 367, Điều 369, Điều 471, Điều 474, Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 165; Điều 166; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L về yêu cầu anh Nguyễn Tiến T3 phải trả lại diện tích 460m² đất nông nghiệp tại khu Đ, thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
- Buộc ông Nguyễn Tiến T3 phải trả lại ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L diện tích 460m² đất nông nghiệp tại khu Đ, thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội. Diện tích đất anh Nguyễn Tiến T3 phải trả cho ông Nguyễn Tiến T, bà Nguyễn Thị L có các mặt tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp mương rộng 8,61m; phía Nam giáp đường đất rộng 8,61m; phía Đông giáp đất công dài 53,40m; phía Tây giáp đất ông B1 dài 53,40m (có sơ đồ kèm theo).
- Ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L phải thanh toán tiền công sức cho ông Nguyễn Tiến T3 số tiền công sức là 35.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi năm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L phải chịu 1.750.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cùng chỗ thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
- + Ông Đặng Minh T1 (người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị L) và anh Nguyễn Tiến T3 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- + Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T, huyện C và bà Tống Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Long |
Bản án số 80/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất nông nghiệp
- Số bản án: 80/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất nông nghiệp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: quyết định buộc phải trả lại đất
