Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/DS-PT

Ngày: 29 – 5 – 2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng

đất, thừa kế quyền sử dụng đất, lối

đi, hợp đồng tặng cho quyền sử

dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân

Các Thẩm phán:Ông Hồ Văn Luông

Bà Trịnh Thị Bích Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa:

Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 55/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, lối đi, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị V

Địa chỉ: số A, T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Thị V: Bà Kiều C

Địa chỉ: A đường số B khu phố E, phường H, thành phố T, TP Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Phạm Tuấn K

Địa chỉ: ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Tuấn K: ông Nguyễn Trọng N.

Địa chỉ: số B ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Tiến Đ
  2. Địa chỉ: số A, T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Tiến Đ: Bà Kiều C

    Địa chỉ: A đường số B khu phố E, phường H, thành phố T, TP Hồ Chí Minh.

  3. Bà Lê Thị H
  4. Địa chỉ: ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị H: Ông Phạm Văn T

    Địa chỉ: 1 khu phố E, phường T, quận G, TP Hồ Chí Minh.

  5. Bà Đặng Thị Hồng N1
  6. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  7. Bà Trần Nguyễn Kim T1
  8. Bà Trần Phạm Thanh T2
  9. Cùng địa chỉ: số E đường N, phường T, quận G, TP Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Phạm Thanh T2: Ông Phạm Văn T.

    Địa chỉ: 1 khu phố E, phường T, quận G, TP Hồ Chí Minh.

  10. Ông Phạm Quốc H1
  11. Địa chỉ: ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

  12. Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang
  13. Địa chỉ: ấp Mái Dầm, xã Đại Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thanh T3 – Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N.

  14. Ông Phạm Văn H2
  15. Địa chỉ: số I đường N, phường F, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Chỗ ở hiện nay: C5/126 ấp C, tổ E đường T, xã P, huyện B, TP Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn H2: Ông Phạm Văn T

    Địa chỉ: 1 khu phố E, phường T, quận G, TP Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: ông Phạm Văn H2, bà Trần Phạm Thanh T2, bà Lê Thị H và ông Phạm Tuấn K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà phía nguyên đơn bà Lâm Thị V trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp của cha mẹ ông T4, sau khi cha mẹ chết thì bà H đứng tên, bà H thế chấp cho Nhà nước ông T4 đứng ra chuộc lại, rồi bà H sang tên toàn bộ phần đất cho ông Phạm Văn T5 diện tích khoảng 12.833m², đất tại ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Sau khi được cấp giấy chứng nhận thì ông T5 cầm cố đất cho bà Đoàn Thị H3 (mẹ ông H1), cầm lâu ông T5 không có tiền chuộc nên bà Phạm Thị H4 về chuộc lại từ bà H3. Sau đó bà H4 cầm cố đất lại cho bà Sáu T6 ở thành phố Hồ Chí Minh. Bà Sáu T6 yêu cầu bà H4 chuộc lại đất bà H4 không có tiền nên yêu cầu tôi chuộc lại đất sẽ sang tên lại cho tôi với giá 4 cây rưỡi vàng 24k vào năm 2019. Sau khi chuộc đất thì tôi tiến hành làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi, đoàn đo đạc tiến hành đo đạc cấp giấy mới cho tôi thì ông Phạm Tuấn K không cho đo đạc nên phát sinh tranh chấp cho đến nay.

Nay tôi yêu cầu Tòa án giải buộc ông Phạm Tuấn K trả lại phần đất sau khi có kết quả đo đạc thực tế là 10.002m² (đã trừ phần đất 3.786,2m² tại thửa 434 mà ông T5 hứa cho ông K).

Bà Lâm Thị V thống nhất sử dụng theo mảnh trích đo địa chính số 19 ngày 21/3/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 và chứng thư định giá số 135/BĐS ngày 09/6/2023 của Công ty thẩm định giá Thống Nhất để giải quyết vụ án trên.

Đến ngày 06/9/2023 bà Lâm Thị V có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện giao quyền thừa kế quyền sử dụng đất lại cho con của bà và ông T5 là Phạm Tiến Đn Đạt.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Tuấn K trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha tôi ông Phạm Văn X chết để lại cho mẹ tôi bà Lê Thị H, được Nhà nước cấp giấy tạm thời năm 1994, diện tích 12.900m². Sau đó ông T5 làm ăn thua lỗ về quê năm 1995, ông T5 nói mẹ tôi già yếu kêu ủy quyền cho ông T5 canh tác toàn bộ phần đất 12.900m², sau đó ông T5 được Ủy ban xã xác nhận bà H ủy quyền cho ông T5 toàn bộ phần đất, không tặng cho sau đó ông T5 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 với diện tích là 12.833m². Sau khi được cấp giấy ông T5 không canh tác mà cố đất qua nhiều người sau cùng ông T5 cố đất cho bà Phạm Thị H4, bà H4 giao đất cho tôi canh tác với điều kiện tôi trồng cây ăn trái chia huê lợi. Lúc còn sống ông T5 có hứa cho tôi phần đất 3.900m² tôi có cất căn nhà nhỏ để chăm vườn.

Còn căn nhà ở là vị trí từ xưa đến nay ông X ở và có phần thổ cư trên phần đất này. Nay tôi yêu cầu phản tố như sau:

  1. Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa tôi với ông Phạm Văn T5. Trước khi chết ông T5 có cho tôi một phần đất diện tích là 3.900m² đất tọa lạc ấp Ba Ngàn A, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Sau khi có kết quả đo đạc thực tế diện tích là 3.786,2m² tại thửa 434. Nay tôi thống nhất với diện tích 3.786,2m². Yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của ông T5 cho tôi với diện tích sau khi đo đạc thực tế là 3.786,2m².
  2. Yêu cầu Tòa án giải quyết mở cho tôi lối đi chiều ngang 2,5m cặp kênh thủy lợi chạy dài đến cuối phần đất diện tích là 421,8m² để đi vào phần đất mà ông Phạm Văn T5 đã cho tôi. Do phần đất ông T5 cho tôi nằm ở đầu đất nên cần phải được mở lối đi vào đất. Ngoài ra hiện tại căn nhà tôi ở từ năm 1982 đến nay không ai tranh chấp cần lối đi vào căn nhà nên yêu cầu Tòa án công nhận cho tôi, tôi không trả lại giá trị.
  3. Yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận cho tôi phần đất và nhà tôi đã ở từ năm 1982 cho đến nay diện tích sau khi đo đạc thực tế là 874,5m² đất tọa lạc ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

Ngoài ra đối với các cây trồng trên phần đất tranh chấp ngoài nội dung tôi yêu cầu thì nếu nguyên đơn nhận đất thì có trách nhiệm bồi thường tiền cây trồng và công chăm sóc của tôi.

Ông Phạm Tuấn K thống nhất sử dụng theo mảnh trích đo địa chính số 19 ngày 21/3/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 và chứng thư định giá số 135/BĐS ngày 09/6/2023 của Công ty thẩm định giá Thống Nhất để giải quyết vụ án trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan quan có yêu cầu độc lập bà Lê Thị H trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Phạm Văn X, để lại cho tôi canh tác, được Hội đồng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời số 0016/HĐCG-CNRĐ cấp ngày 15/10/1994, canh tác từ lúc ông X sống tới nay. Năm 1997 tôi cho ông T5 mượn đất canh tác, rồi ông T5 tự ý làm giấy sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông T5 đứng tên, quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T5 không ai xuống đo đạc gì. Ông T5 sang tên khi nào tôi không biết, khi bà Phạm Thị H4 chuộc đất tôi mới biết giấy sang ông T5.

Tôi có yêu cầu độc lập như sau yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01818 cấp ngày 20/10/1997 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 20/10/1997 cho hộ ông Phạm Văn T5, yêu cầu Tòa án công nhận phần đất sau khi có kết quả đo đạc thực tế là 13.788,2m² cho tôi (trừ ra phần đất ông K có yêu cầu phản tố).

Bà Lê Thị H thống nhất sử dụng theo mảnh trích đo địa chính số 19 ngày 21/3/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 và chứng thư định giá số

135/BĐS ngày 09/6/2023 của Công ty thẩm định giá Thống Nhất để giải quyết vụ án trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Phạm Tiến Đ trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Phạm Văn T5 cha của tôi để lại, ông T5 chỉ có tôi là con ruột, nay ông T5 chết yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được hưởng toàn bộ phần đất cha tôi để lại cho tôi là 10.002m² (đã trừ phần đất 3.786,2m² tại thửa 434 mà ông T5 hứa cho ông K) đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giangiang.

Ông Phạm Tiến Đ thống nhất sử dụng theo mảnh trích đo địa chính số 19 ngày 21/3/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 và chứng thư định giá số 135/BĐS ngày 09/6/2023 của Công ty thẩm định giá Thống Nhất để giải quyết vụ án trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố N: Ông Nguyễn Thanh T3 trình bày: Hiện nay giấy của ông Phạm Văn T5 đã được Ủy ban nhân dân thị xã N (nay là thành phố N) thu hồi theo quyết định số 672/QĐ-UBND ngày 22/4/2019 để cấp lại theo đúng với mục đích sử dụng thực tế. Sau khi có bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ủy ban nhân dân thành phố N sẽ cấp lại theo quy định.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quốc H1 trình bày: Trước đây năm 2006 ông có cầm cố đất của ông T5 với giá 02 cây vàng 24K, đến nay bà V chưa thanh toán cho ông nhưng ông không yêu cầu gì trong vụ án này ông sẽ tự thỏa thuận với bà V.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Nguyễn Kim T1 trình bày: Tôi là vợ của ông T5, sống chung không có đăng ký kết hôn, có 01 con chung tên Trần Phạm Thanh T2. Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Phạm Văn X, tôi về làm dâu 03 năm thì tôi về thành phố sinh sống. Đến năm 1990 thì tôi và ông T5 không sống chung nữa. Năm 1992 ông T5 cưới bà V và có con chung là Phạm Tiến Đ. Năm 1996 bà V và ông T5 ly thân nên ông T5 về phần đất tranh chấp ở, chuộc đất và làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Năm 2007 ông T5 mất, bà V chuộc đất từ bà H4 và tiến hành làm thủ tục sang tên cho bà V nên phát sinh tranh chấp. Nay, tôi không có yêu cầu gì đối với phần đất tranh chấp cũng như tài sản gì của ông T5. Tôi yêu cầu xem xét, giải quyết cho ông K sử dụng.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Phạm Thanh T2 trình bày: Tôi là con của ông T5 với bà Trần Nguyễn Kim T1, nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông nội Phạm Văn X, quá trình sử dụng như thế nào tôi không biết. Nay, tôi không có yêu cầu gì đối với phần đất tranh chấp cũng như tài sản gì của ông T5. Tôi yêu cầu xem xét, giải quyết cho ông K sử dụng.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Hồng N1 trình bày: Tôi về làm vợ ông Phạm Tuấn K năm 2012

nên nguồn gốc tranh chấp như thế nào tôi không biết, tôi thống nhất theo các yêu cầu của ông K và không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H2 trình bày: Ông là em ruột của ông Phạm Văn T5. Ông nhập ngũ ngày 11/3/1983, xuất ngũ ngày 05/6/1986. Sau khi xuất ngũ thì ông về sống với mẹ ở Vũng Tàu cho đến nay. Khoảng 37 năm nay ông không sống ở xã Đ. Ông mới biết vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà V và ông K ngày 19/9/2023 do ông K điện thoại cho hay. Nay ông về xin được tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Nay tôi yêu cầu Tòa án cho tham gia phiên tòa và giải quyết yêu cầu của tôi có một phần tài sản trong vụ án. Hôm nay tôi không có tài liệu chứng cứ gì kèm theo để chứng minh cho yêu cầu của mình.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tuyên xử:

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị V.

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Phạm Tuấn K.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa liên quan bà Lê Thị H.

Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa liên quan ông Phạm Tiến Đ.

Giao cho ông Phạm Tiến Đ được quyền quản lý sử dụng phần đất tại các vị trí cụ thể như sau: Tại vị trí 1 diện tích là 2.285,1m², vị trí 3 diện tích là 421,8m², vị trí 4 diện tích 6.120m² đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang, thực hiện theo mảnh trích đo địa chính số 19 ngày 21/3/2022 và phụ lục kèm theo của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1. Giao cho ông Phạm Tuấn K được quyền quản lý sử dụng phần đất tại các vị trí cụ thể như sau:

Tại vị trí 1a lối đi diện tích là 79,5m², vị trí 2a lối đi diện tích là 6,3m², vị trí 2b lối đi diện tích 25,1m², vị trí 4a lối đi diện tích 221,1m², phần đất tại vị trí tại trí số 2 có diện tích là 843,1m², phần đất tại trí số 5 có diện tích là 3.786,2m² đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang, thực hiện theo mảnh trích đo địa chính số 19 ngày 21/3/2022 và phụ lục kèm theo của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1.

Tiếp tục giao cho ông Phạm Tuấn K được sử dụng căn nhà và các công trình kiến trúc trên đất thực hiện theo mảnh trích đo địa chính số 19 ngày 21/3/2022 và phụ lục kèm theo của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1g Hậu.

Buộc ông Phạm Tuấn K có trách nhiệm hoàn trả cho ông Phạm Tiến Đ số tiền là 627.066.900đồng (Sáu trăm hai mươi bảy triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm đồng).

Buộc ông Phạm Tiến Đ hoàn trả cho ông Phạm Tuấn K số tiền là 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm hoàn trả số tiền trên thì hàng tháng bị đơn phải chịu lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

Giao cho ông Phạm Tuấn K được quyền quản lý sử dụng các cây trồng trên phần đất tại vị trí số (2) và số (5).

Giao cho ông Phạm Tiến Đ được quyền quản lý sử dụng các cây trồng trên phần đất tại vị trí số (1) và số (4) và số (3).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định định giá tài sản, trích lục hồ sơ, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H có đơn kháng cáo, nội dung kháng cáo: xem xét toàn bộ nội dung vụ án chấp nhận yêu cầu độc lập của bà.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, bị đơn ông Phạm Tuấn K có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo: ông đồng ý chấp nhận tỏa thuận phần đất đo đạc thực tế là 3.786,2m², không đồng ý các phần còn lại của bản án đã tuyên.

Ngày 02 tháng 10 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H2 có đơn kháng cáo, nội dung kháng cáo: yêu cầu hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự, không làm rõ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không xác minh đúng nguồn gốc của thửa đất tranh chấp.

Ngày 03 tháng 10 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Phạm Thanh T2 có đơn kháng cáo, nội dung kháng cáo: yêu cầu hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự, không làm rõ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không xác minh đúng nguồn gốc của thửa đất tranh chấp.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị H, bà Trần Phạm Thanh T2, ông Phạm Văn H2 là ông Phạm Văn T trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Bị đơn Phạm Tuấn K có người đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Trọng N trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Người đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Thị V và anh Phạm Tiến Đ là chị Kiều C trình bày: thống nhất với bản án sơ thẩm và không đồng ý với yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:

- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đúng; Xác định sai tư cách của đương sự; thụ lý tranh chấp chưa làm rõ di sản của ai từ đó xác định hàng thừa kế chưa đúng dẫn đến đưa thiếu người tham gia tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hủy bản án sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thẩm quyền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự ông Phạm Văn H2, bà Trần Phạm Thanh T2, bà Lê Thị H và ông Phạm Tuấn K có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Xét kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy Bản án sơ thẩm có những vi phạm sau:
    • [2.1] Về thủ tục tố tụng:
      • - Thụ lý yêu cầu phản tố không phù hợp:

        Theo đơn khởi kiện bà Lâm Thị V yêu cầu ông Phạm Tuấn K trả lại phần đất 10.002m² đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (sau khi trừ phần 3.786,2m² tại thửa 434 mà ông T5 trước đây thống nhất cho bị đơn ông K). Bị đơn Phạm Tuấn K có yêu cầu phản tố công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bị đơn và ông Phạm Văn T5 (chồng bà V) sau khi có kết quả đo đạc thực tế diện tích với là 3.786,2m² tại thửa 434, yêu cầu mở lối đi chiều ngang 2,5m cặp kênh thủy lợi chạy dài đến cuối phần đất diện tích là 421,8m² để đi vào phần đất mà ông Phạm Văn T5 đã cho bị đơn; yêu cầu công nhận phần đất và nhà diện tích sau khi đo đạc thực tế là 874,5m². Tuy nhiên, phần phản tố với diện tích 3.786,2m² này nằm ngoài phạm vi khởi kiện ban đầu của nguyên đơn.

        Tại khoản 4 Điều 72 BLTTDS quy định về quyền của bị đơn: “Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn”. Trong vụ án này, bị đơn không đưa ra được yêu cầu phản tố có liên quan hoặc đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn là chưa phù hợp nhưng Toà án cấp sơ thẩm lại thụ lý yêu cầu này, ngày 10/5/2023. Mặt khác đến ngày 06/9/2023 nguyên đơn bà V đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện toàn bộ yêu cầu đòi lại phần đất 10.002m², do đó đối tượng khởi kiện ban đầu không còn nhưng Toà án cấp sơ thẩm vẫn tiếp tục xem xét, giải quyết và công nhận các vị trí đất, căn nhà và các công trình kiến trúc trên đất cho bị đơn ông K.

      • - Thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghãi vụ liên quan chưa chính xác:

        Tại giai đoạn thụ lý, Toà án cấp sơ thẩm chỉ thụ lý yêu cầu là tranh chấp quyền sử dụng đất, tuy nhiên tại phiên toà sơ thẩm đã xác định thêm các quan hệ tranh chấp là “tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi, thừa kế quyền sử dụng đất”.

        Trong vụ án này người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H yêu cầu huỷ toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện P (cũ) cấp cho hộ ông Phạm Văn T5 vào ngày 20/10/1997, đồng thời công nhận cho bà H phần đất sau khi có kết quả đo đạc thực tế là 12.833m². Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý yêu cầu độc lập của bà H ngày 14/9/2022 và tuyên không chấp nhận yêu cầu của bà. Thế nhưng Toà án chưa xem xét đến đối tượng yêu cầu của bà H là Giấy chứng nhận QSD đất của hộ ông Phạm Văn T5 đã được Ủy ban nhân dân thị xã N (nay là thành phố N) thu hồi theo quyết định số 672/QĐ-UBND ngày 22/4/2019, mục đích để cấp lại theo đúng với mục đích sử dụng thực tế, Quyết định 672 này đã có hiệu lực, không bị ai khiếu nại hay bị phản đối nên đối tượng là Giấy chứng nhận QSD đất nêu trên không còn tồn tại để xem xét, do đó việc đương sự yêu cầu sai nhưng Toà án vẫn xem xét là không có căn cứ.

      • - Đưa thiếu người vào tham gia tố tụng:

        Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Tiến Đ yêu cầu Tòa án giải quyết được hưởng thừa kế toàn bộ phần đất ông T5 để lại là 13.788,2m² và đồng ý cho ông Phạm Tuấn K phần đất 3.786,2m² và yêu cầu nhận thừa kế còn lại theo pháp luật, yêu cầu độc lập ngày 29/5/2023. Quá trình thụ lý và giải quyết các yêu cầu độc lập về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất nhưng Toà án sơ thẩm lại đưa thiếu những người phải tham gia tố tụng vào để xem xét liên quan đến yêu cầu thừa kế này như: hàng thừa kế của cụ ông Phạm Văn X gồm 03 người vợ (bà P, bà H3, bà H) và 04 người con ruột của ông X là Phạm Văn T5 (đã chết), Phạm Văn H2, Phạm Thị H4 (đã chết) và Phạm Tuấn K; không đưa hàng thừa kế thế vị của bà Phạm Thị H4 và đưa thiếu hàng thừa kế thế vị ông Phạm Văn T5, dẫn đến những người này không được đưa ra yêu cầu liên quan đến di sản thừa kế, không thực hiện các thủ tục tố tụng khởi kiện, tạm ứng án phí về thừa kế quyền sử dụng đất (sau khi bà V rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và chuyển giao quyền thừa kế sang cho ông Đ); không được tham gia hoà giải, công khai chứng cứ trong vụ án.... là vi phạm thủ tục tố tụng theo Điều 74 BLTTDS, khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự.

      • - Xác định sai tư cách tham gia tố tụng của đương sự:

        Bà V khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất của hộ ông T5 do bà đã bỏ 04 cây rưỡi vàng 24K để chuộc lại đất, tuy nhiên bà V chưa được đứng tên hợp pháp trên QSD đất mà bà chỉ là một trong những người thuộc hàng thừa kế của ông T5 (chồng bà). Bà V và anh Đ (con bà V) phải cùng một tư cách tham gia tố tụng là nguyên đơn trong vụ án nhưng Toà án cấp sơ thẩm lại xác định bà V là nguyên đơn, anh Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chưa chính xác.

    • [2.2] Về nội dung: Bản án sơ thẩm thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án xác định thêm các mối quan hệ pháp luật tranh chấp như: hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi, thừa kế quyền sử dụng đất”. Nhưng thông báo thụ lý, quyết định đưa vụ án ra xét xử chỉ có một quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, cấp sơ thẩm cũng chưa xác định rõ nguồn gốc đất là di sản thừa kế hợp pháp của ông T5 hay ông X để làm căn cứ phân chia và xác định hàng thừa kế để phân chia di sản, nhưng vẫn xem xét giải quyết yêu cầu trên là chưa có căn cứ.
  3. [3] Từ những nhận định trên, xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và việc thu thập chứng cứ không đầy đủ mà không thể khắc phục được. Do đó, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
  4. [4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  5. [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: chưa ai phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Chưa ai phải chịu.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Tuấn K được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai số 0009080, ngày 26 tháng 9 năm 2023; Ông Phạm Văn H2 được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai số PT2024/0005, ngày 02 tháng 10 năm 2023; bà Trần Phạm Thanh T2 được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai số PT2024/0030, ngày 09 tháng 10 năm 2023, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 29 tháng 5 năm 2024.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND thành phố Ngã Bảy;
  • - Chi cục THADS thành phố Ngã Bảy;
  • - Lưu hồ sơ vụ án – VP – Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thanh Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/DS-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, lối đi, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 80/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, lối đi, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger