Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày: 28/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Xuân Ban.
  2. Bà Ngô Thị Luân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Rung K' Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thành L – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 2000. Tại: Ninh Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Thành D và bà Đào Thị G; Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 28/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện L. Có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Thành D1 – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1997. Tại: Ninh Thuận; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 0/12; Nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Thành T và bà Nguyễn Thị G1; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện L. Có mặt
  3. Họ và tên: Nguyễn Thành L1 – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1997. Tại: Ninh Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Thành D và bà Đào Thị G;

Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện L. Có mặt

  1. Họ và tên: Lê Văn T1 – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1995. Tại: Ninh Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Tự do; con ông Lê M (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện L. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1979. Vắng mặt
  • Trú tại: tổ dân phố Q, thị trấn Đ, L, Lâm Đồng.
  • + Anh Nguyễn Tiến M1, sinh năm 1993. Vắng mặt
  • Trú tại: tổ dân phố B, thị trấn N, huyện L, Lâm Đồng.
  • + Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985. Vắng mặt.
  • Trú tại: thôn L, xã T, huyện L, Lâm Đồng
  • + Anh Kiều Xuân C, sinh năm 1985. Vắng mặt.
  • Trú tại: tổ dân phố B, thị trấn Đ, L, tỉnh Lâm Đồng.
  • + Anh K, sinh năm 2002. Vắng mặt.
  • Trú tại: thôn C, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng
  • + Anh Ngô Đức T3, sinh năm 2000. Vắng mặt.
  • Trú tại: xóm A, thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng
  • + Anh K1, sinh năm 2004. Vắng mặt.
  • Trú tại: thôn C, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng
  • + Anh K2, sinh năm 2004. Vắng mặt.
  • Trú tại: thôn B, xã S, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  • + Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1976. Vắng mặt.
  • Trú tại: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1992. Có mặt.
  • + Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1976. Có mặt.
  • + Anh Trần Văn C1, sinh năm 1987. Vắng mặt.
  • + Anh Hứa Trung K3, sinh năm 1994. Vắng mặt.
  • + Anh Trần Văn T5, sinh năm 1998. Vắng mặt.
  • + Anh Phạm Hồng T6, sinh năm 1982. Có mặt.
  • + Anh Nguyễn Tiến S, sinh năm 1992. Vắng mặt.
  • + Anh Võ Văn T7, sinh năm 1993. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 10 năm 2023 Nguyễn Thành T, sinh năm 1976, Nơi cư trú: thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cùng các em ruột là Nguyễn Thành T8, sinh năm 1992, Nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nguyễn Thành L1, sinh năm 1997, Nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nguyễn Thành L, sinh năm 2000, Nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận và con trai là Nguyễn Thành D1, sinh năm 1997, Nơi cư trú: thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận từ huyện N, tỉnh Ninh Thuận đến xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để hái cà phê thuê. Cả 05 người này thuê nhà trọ tại thôn T, xã T và ở chung với Lê Văn T1, sinh năm 1995, Nơi cư trú: thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (cũng là người đi hái cà phê thuê từ huyện N, tỉnh Ninh Thuận đến).

Vào ngày 28/12/2023, cả nhóm 06 người đi hái cà phê cho gia đình anh Hứa Trung K3, sinh năm 1994, Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện L. Đến khoảng 15 giờ thì gia đình anh K3 mời nhóm này ăn nhậu kết thúc mùa vụ cà phê thì cả nhóm ở lại ăn nhậu. Đến khoảng 17 giờ thì Nguyễn Thành T điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream màu nâu biển số 85R7-4303 chở bạt đi về phòng trọ trước. Còn lại T1, L, L1, D1T8 ở lại nhà anh K3 nhậu tiếp đến 20 giờ thì L1 điều khiển xe mô tô kiểu wave an pha màu xanh, biển số 85R5-3417 của L1 chở T8 còn Tín điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Ferroli màu đen, biển số 85D1- 196.51 chở D1, L ngồi sau cùng về nhà trọ tại thôn T, xã T. Khi về đến phòng trọ thì T1, L, L1, D1T8 rủ nhau góp tiền mỗi người 50.000 đồng mua bia về nhậu tiếp. Sau đó, D1 cầm tiền rồi điều khiển mô tô nhãn hiệu DAYANG, màu xanh, biển số 85R5-3417 của L1 và chở L1 đi mua bia. Trên đường đi từ thôn T đi thôn H để mua bia thì D1 phát hiện tổ Cảnh sát giao thông, trật tự cơ động đang làm nhiệm vụ trước cổng UBND xã T. Lúc này đồng chí Kiều Văn C2 – cán bộ đội cảnh sát giao thông Công an huyện L phát hiện một phương tiện xe mô tô đi từ hướng xã H đi UBND xã T gần đến vị trí tổ công tác có biểu hiện vi phạm giao thông nên đã dùng gậy tín hiệu ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra phương tiện thì D1 không chấp hành mà quay đầu xe bỏ chạy, thấy vậy đồng chí Nguyễn Đức T9 và đồng chí K' Bìn là chiến sỹ cảnh sát cơ động được giao nhiệm vụ hỗ trợ tổ công tác chạy lên phía trước dùng gậy tín hiệu để yêu cầu D1 dừng xe nhưng D1 vẫn không chấp hành và điều khiển xe chở L1 bỏ chạy nên đã va vào gậy tín hiệu của cán bộ Tổ công tác. Khi về đến phòng trọ, D1L1 kể lại sự việc gặp chốt Cảnh sát giao thông và quay đầu bỏ chạy cho T1, T8, T, L nghe nên không mua được bia. Bực tức vì không mua được bia để nhậu nên D1L1 rủ Tại, T8,

L, T1 đi ra chốt Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ để đánh lực lượng này. Khi nghe D1, L1 rủ đi đánh tổ Cảnh sát giao thông thì LT1 đồng ý còn T8 và Tại không đồng ý và can ngăn nhưng D1, L1, T1, L không nghe mà rủ nhau tiếp tục đi như đã nói từ trước. lúc này L hỏi D1 “đi đánh Công an thì đánh bằng cái gì”, khi nghe L hỏi D1 thì L1 chạy ra phía sau bếp lấy một khúc cây gỗ có chiều dài khoảng 01m, đường kính 06cm cầm trên tay. Thấy vậy T1 nói với Lại đi theo T1 lấy dao làm hung khí đánh lực lượng cảnh sát giao thông. Sau đó Tín điều khiển xe mô tô hiệu Ferroli biển số 85D1-19651 màu đen chở Lại ra Chợ T10 đến quầy hàng của bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1976, Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng tại Chợ T10 không có người trông coi. T1L đi vào quầy hàng lục tìm được 03 con dao, 01 con dao mũi bằng dài khoảng 37 cm, bản rộng nhất khoảng 06cm, cán bằng gỗ tròn, trên đầu dao có 01 lỗ tròn; 01 con dao mũi bằng dài 33cm, cán bằng sắt đường kính 03 cm dài 10cm, bản rộng nhất khoảng 07cm; 01 con dao thái lan dài khoảng 20cm, cán dao màu vàng. Sau khi lấy được dao T1 đưa cho Lại 02 con dao, còn 01 con dao thái lan cán màu vàng thì T1 vứt lại quầy. Trong khi T1L đi tìm hung khí thì L1 lấy một con dao dài 40cm, bản rộng 10cm, cán bằng gỗ của L1 tại cửa phòng trọ và cất vào trong người rồi sau đó D1 điều khiển xe hiệu DAYANG màu xanh BS: 85R5-3417 của L1 chở L1 đi ra hướng chợ T10 và đi ra ngã ba đường xuống chợ để xe tại sân nhà Dương Thị H2 ở thôn T, xã T rồi cầm hung khí đi bộ về phía tổ công tác khoảng 200m. Lúc này T1 dừng xe để Lại nhảy xuống đi cùng D1L1 còn Tín điều k xe tăng tốc chạy về hướng tổ công tác đang làm nhiệm vụ. Tín vừa chạy vừa nẹt pô chạy thẳng qua chốt Cảnh sát giao thông đang làm việc. Khi T1 vừa chạy qua chốt Cảnh sát giao thông thì D1 hô lên “tiến lên” thì L1 cũng hô theo “tiến lên, đánh chết mẹ chúng nó đi”. Lại thì hét lớn “ Đù má tại sao các ông đánh cháu tôi, đù má công an đánh dân”. Sau đó D1 cầm 01 gậy gỗ, L cầm 02 con dao trên tay, L1 cầm 01 con dao chạy về phía tổ cảnh sát giao thông. Khi cả bọn cách tổ cảnh sát giao thông khoảng 10 mét thì L1D1 nhặt các cục bê tông bên đường ném nhiều phát về phía tổ cảnh sát giao thông và người dân đứng gần đó. Tổ cảnh sát giao thông và cảnh sát cơ động phát hiện nhóm đối tượng trên cầm hung khí thì lùi lại một đoạn sau đó đuổi theo truy bắt. Tổ cảnh sát giao thông cơ động phối hợp với Công an xã T cùng người dân đuổi theo truy bắt được đối tượng Nguyễn Thành L còn D1L1 chạy thoát. Tổ cảnh sát giao thông và cảnh sát cơ động thu giữ tại hiện trường 01 con dao mũi bằng dài khoảng 30 cm, bản rộng nhất khoảng 4cm, cán bằng gỗ tròn, trên đầu dao có 01 lỗ tròn mà Lại sử dụng; 01 cây gỗ tròn mà L1 sử dụng. Quá trình xác minh, lực lượng Công an đã truy bắt Lê Văn T1Nguyễn Thành L1. Ngày 29/12/2023, Nguyễn Thành D1 đến cơ quan Công an đầu thú.

Vật chứng thu giữ: (một) con dao, chiều dài 37cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại; 01 con dao mũi bằng, dài 33cm có cán bằng sắt, đường kính 03cm, dài 10cm, lưỡi dao có bản rộng nhất 07cm; 01 con dao mũi bằng dài 33cm, cán bằng sắt đường kính 03 cm dài 10cm, bản rộng nhất khoảng 07cm; 01 khúc cây gỗ vông dài 94cm, đường kính 06cm; 01 cục bê tông màu xám kích

thước 10x11cm; 01 cục bê tông màu xám kích thước 10x13cm; 01 cục bê tông màu xám kích thước 6,5x09cm; 01 USB bên trong có chứa đoạn Video dài 1 phút, 04 giây ghi lại cảnh nhóm đối tượng lấy hung khí tại quầy hàng của bà A tại Chợ T10 vào tối ngày 28/12/2023; 01 USB bên trong có chứa đoạn Video dài 00 phút, 44 giây ghi lại hành vi của các bị can tấn công lực lượng Công an vào tối ngày 28/12/2023; 01 xe mô tô xe hiệu DAYANG màu xanh BS: 85R5-3417; 01 xe mô tô nhãn hiệu Ferroli màu đen, biển số 85D1-1965.

Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố các bị can Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Thành L1, Lê Văn T1 về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không ai thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Thành L1, Lê Văn T1 về tội “Chống người thi hành công vụ”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn T1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu DAYANG màu xanh, biển số: 85R1- 3417 của Nguyễn Thành L1, 01 xe mô tô nhãn hiệu Ferroli, màu đen, biển số: 85D1- 196.51 của Lê Văn T1 là phương tiện mà các đối tượng đã sử dụng để

chở người đi thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ hiện chưa xác định được ngồn gốc nên đề nghị tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L xác minh để xử lý theo đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 USB bên trong có chứa đoạn Video dài 1 phút, 04 giây ghi lại cảnh nhóm đối tượng lấy hung khí tại quầy hàng của bà A tại Chợ T10 vào tối ngày 28/12/2023; 01 USB bên trong có chứa đoạn Video dài 00 phút, 44 giây ghi lại hành vi của các bị can tấn công lực lượng Công an vào tối ngày 28/12/2023 đề nghị tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

Đối với các hung khí gồm: 01 (một) con dao bằng kim loại, có chiều dài 33 cm, lưỡi dao bằng kim loại, bản rộng 07cm, cán dao bằng gỗ; 01 (một) khúc cây tầm vông đã khô, có chiều dài 94cm, đường kính 06cm; 01 (một) cục bê tông, màu xám, kích thước (10 x 11)cm; 01 (một) cục bê tông màu xám, kích thước (10x13)cm; 01 cục bê tông màu xám kích thước (6,5 x 09)cm. Quá trình điều tra xác định là hung khí các bị cáo đã dùng để chống người thi hành công vụ vào tối ngày 28/12/2023 nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 con dao gồm: 01 (một) con dao, chiều dài 37cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại; 01 con dao mũi bằng, dài 33cm có cán bằng sắt, đường kính 03cm, dài 10cm, lưỡi dao có bản rộng nhất 07cm. Qúa trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị A. Việc các đối tượng sử dụng con dao trên làm hung khí thì bà A không biết. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định xử lý vật chứng số: 575 ngày 25/03/2023 trả lại cho bà A nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 21 ngày 28/12/2023 khi Tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L đang làm nhiệm vụ kiểm tra xử lý vi phạm nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện giao thông

tại tuyến đường Tỉnh lộ 725 trước cổng trụ sở UBND xã T thuộc thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo Kế hoạch tuần tra kiểm soát số 54/CSGT ngày 25/12/2023 của Công an huyện L thì các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Thành L1 có hành vi dùng gậy gỗ, dao cầm trên tay và các cục bê tông ném về phía các đồng chí Cảnh sát giao thông, cảnh sát cơ động đang làm nhiệm vụ. Bị cáo Lê Văn T1 có hành vi giúp sức tích cực cho các bị cáo còn lại thực hiện hành vi phạm tội như: chuẩn bị hung khí, chở bị can Lại đến vị trí tổ công tác làm nhiệm vụ để tấn công tổ công tác, điều khiển phương tiện giao thông đi với tốc độ nhanh, thông chốt nơi tổ công tác đang làm nhiệm vụ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Thành L1, Lê Văn T1 đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng đã truy tố.

[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của các đồng chí Công an đang thi hành công vụ, xâm phạm đến hoạt động quản lý của nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo D1, bị cáo L1 là người rủ rê và cùng cầm hung khí, hô hào, nhặt các cục bê tông ném về phía tổ công tác nên bị cáo D1L1 có vai trò ngang nhau và cao hơn vai trò của bị cáo L, bị cáo T1. Bị cáo L sau khi được rủ thì đã tích cực tham gia cùng với bị cáo D1L1 cầm dao chạy về phía tổ công tác, gây hấn, đe dọa, tấn công tổ công tác nên bị cáo L có vai trò thực hành và sau vai trò của D1, L1. Bị cáo T1 khi được rủ thì cũng đồng ý tham gia và đã lấy 02 con dao đưa cho L để L dùng làm hung khí, dùng xe chở L1 chạy về phía tổ công tác đang làm nhiệm vụ, thông chốt gây náo loạn nên bị cáo T1 có vai trò là người giúp sức và sau vai trò của D1, L1, L.

[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Các bị cáo đều thể hiện thái độ khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thành D1 sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên cho bị cáo D1 hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7] Hành vi của các bị cáo thể hiện sự manh động, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại nơi xảy ra tội phạm, gây tâm lý lo sợ, bất an trong quần chúng nhân dân nên phải có một hình

phạt thật nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo nhìn nhận lỗi lầm, tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Đồng thời để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[8] Xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu DAYANG màu xanh, biển số: 85R1- 3417 của Nguyễn Thành L1, 01 xe mô tô nhãn hiệu Ferroli, màu đen, biển số: 85D1- 196.51 của Lê Văn T1 là phương tiện mà các đối tượng đã sử dụng để chở người đi thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ hiện chưa xác định được nguồn gốc nên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 01 USB bên trong có chứa đoạn Video dài 1 phút, 04 giây ghi lại cảnh nhóm đối tượng lấy hung khí tại quầy hàng của bà A tại Chợ T10 vào tối ngày 28/12/2023; 01 USB bên trong có chứa đoạn Video dài 00 phút, 44 giây ghi lại hành vi của các bị cáo tấn công lực lượng Công an vào tối ngày 28/12/2023 tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

Đối với 02 con dao gồm: 01 (một) con dao, chiều dài 37cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại; 01 con dao mũi bằng, dài 33cm có cán bằng sắt, đường kính 03cm, dài 10cm, lưỡi dao có bản rộng nhất 07cm. Qúa trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà A nên không xem xét.

Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà là: 01 (một) con dao bằng kim loại, có chiều dài 33 cm, lưỡi dao bằng kim loại, bản rộng 07cm, cán dao bằng gỗ; 01 (một) khúc cây tầm vông đã khô, có chiều dài 94cm, đường kính 06cm; 01 (một) cục bê tông, màu xám, kích thước (10 x 11)cm; 01 (một) cục bê tông màu xám, kích thước (10x13)cm. 01 cục bê tông màu xám kích thước (6,5 x 09)cm. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là hung khí các bị cáo đã dùng vào hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[9] Về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Thành L1, Lê Văn T1 cùng phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D1 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L1 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại, có chiều dài 33 cm, lưỡi dao bằng kim loại, bản rộng 07cm, cán dao bằng gỗ; 01 (một) khúc cây tầm vông đã khô, có chiều dài 94cm, đường kính 06cm; 01 (một) cục bê tông, màu xám, kích thước (10 x 11)cm; 01 (một) cục bê tông màu xám, kích thước (10x13)cm; 01 cục bê tông màu xám kích thước (6,5 x 09)cm. (Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 28/5/2024). Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - Thi hành án huyện Lâm Hà;
  • - Các Bị cáo; Đương sự.
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự về tội chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger