Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 80/2023/HS-ST

Ngày: 27-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Nguyễn Minh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Liêm
  2. Bà Lê Thị Phương Dung

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương và trụ sở cơ sở giam giữ Công an huyện D, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng xét xử sơ thẩm công khai (hình thức xét xử trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 2005, tại Bình Dương. Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1979 và bà Trương Thị L, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ con, có 01 chị sinh năm 2003 (đã chết) ; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/6/2023, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Trương Minh T, sinh năm 2003, tại Bình Dương. Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Minh C (đã chết) và bà Phan Thị V1; bị cáo chưa có vợ con, có 01 em sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/6/2023, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Hà Sĩ C1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ E, khu phố B, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.Có đơn xin vắng mặt.
  2. Trương Thị B, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp H, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn QTrương Minh T là anh em họ với nhau. Khoảng 16 giờ ngày 29 tháng 6 năm 2023, Q gọi điện thoại cho T rủ T đi mua ma túy về sử dụng thì T đồng ý. Q điều khiển xe mô tô biển số 61H1-641.53 đến nhà T cùng đi mua ma túy về sử dụng. T điều khiển xe mô tô chở Q. Q là người chỉ đường cho T đến địa điểm mua ma túy. Khi đến một đoạn đường vắng trong khu công nghiệp M, thị xã B, tỉnh Bình Dương TQ cùng ngồi trên xe mô tô để chờ. Khoảng 05 phút sau, một người phụ nữ không xác định được nhân thân, lai lịch đưa ma túy cho Q. Q đưa cho người này 100.000 đồng. Sau đó, Q nói với T đã mua ma túy với giá 100.000 đồng. Q cầm ma túy trong lòng bàn tay phải. T điều khiển xe mô tô chở Q về nhà. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi QT đi đến ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương thì bị công an xã A chặn lại kiểm tra. Thấy công an, Q hoảng sợ nên ném gói ma túy vừa mua được xuống lề đường để phi tang nhưng bị Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng như sau: 01 túi nylon chứa tinh thể bột màu trắng; 01 xe mô tô biển số 61H1-641.53.

Quá trình điều tra, Công an thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu hồng của Nguyễn Văn Q và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh đen của Trương Minh T.

Kết luận giám định số 380/KL-KTHS (MT) ngày 06/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng/trọng lượng là 0,2286 gam.

Tại bản Cáo trạng số 84/CT-VKSDT ngày 28/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn QTrương Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như sau:

Về tội danh: Truy tố bị cáo Nguyễn Văn QTrương Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn QTrương Minh T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì thư được niêm phong ghi số 380/PC09, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Văn Q, cán bộ niêm phong Bùi Anh V2, chữ ký ông Phạm Ngọc H (Phó trưởng công an) và hình dấu đỏ của Công an xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; có chữ ký của Đoàn Nguyễn Thiện Q1, Nguyễn Quang Đ và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Khối lượng mẫu vật niêm phong M=0,2079 gam. Xét thấy, đây là tang vật của vụ án nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Nguyễn Văn QTrương Minh T do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý. Khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với xe mô tô biển số 61H1-641.53 do ông Hà Sĩ C1, sinh năm 1990, địa chỉ: tổ E, khu phố B, Phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước đứng tên chủ sở hữu. Ông C1 đã bán xe trên cho bà Trương Thị B (là cô ruột của T, T nhờ bà B mua giùm T). Xét thấy, đây là phương tiện đi lại hằng ngày của Trương Minh T nên đề nghị tuyên trả cho T.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu hồng của Nguyễn Văn Q và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh đen của Trương Minh T. Xét thấy, đây là phương tiện liên lạc của QT nên đề nghị trả cho QT.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện cải tạo thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ có trong hồ sơ đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể:

Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại đoạn đường thuộc ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương, Công an xã A bắt quả tang các bị cáo Nguyễn Văn QTrương Minh T có hành vi tàng trữ 0,2286 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Như vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma tuý đã và đang gây tác hại xấu cho sức khoẻ của người sử dụng; làm ảnh hưởng đến nòi giống, làm suy kiệt về kinh tế, ma tuý là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác và làm lan truyền nhiều loại bệnh nguy hiểm. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, các bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn bất chấp hậu quả thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Trong vụ án các bị cáo phạm tội có tính đồng phạm giản đơn, bị cáo Q là người rủ rê, chỉ đường đi mua ma túy và trả tiền mua ma túy nên vai trò của bị cáo Q cao hơn bị cáo T.

[4] Xét hành vi, mức độ phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện D. Cần phải xử lý nghiêm hành vi của các bị cáo bằng mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố đến tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng đã nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là M.

[8] Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để các bị cáo có điều kiện được giáo dục, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời tạo điều kiện để các bị cáo cai nghiện ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9] Xử lý về vật chứng: Chất ma túy còn lại sau giám định M = 0,2079gam là chất cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển số 61H1-641.53 do ông Hà Sĩ C1, sinh năm 1990, địa chỉ: tổ E, khu phố B, Phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước đứng tên chủ sở hữu. Ông C1 đã bán xe trên cho bà Trương Thị B (là cô ruột của T, T đưa tiền nhờ bà B mua giùm T). Như vậy, xe mô tô biển số 61H1-641.53 là tài sản hợp pháp của bị cáo Trương Minh T. Bị cáo T sử dụng xe mô tô nêu trên làm phương tiện để đi mua ma túy nên đây là phương tiện thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu hồng của Nguyễn Văn Q và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh đen của Trương Minh T. Xét thấy, đây là phương tiện liên lạc của QT, các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả cho các bị cáo.

[10] Các vấn đề khác có liên quan đến vụ án: Đối với người phụ nữ bán ma túy cho các bị cáo do không xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý. Cơ quan cảnh sát Điều tra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.

[11] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về phần tội danh, điều khoản truy tố và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về phần xử lý vật chứng đối với xe mô tô biển số 61H1-641.53 là chưa phù hợp nên hội đồng xét xử sẽ quyết định khác đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[12] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn QTrương Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2023.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Trương Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2023.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 380/PC09, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Văn Q, cán bộ niêm phong Bùi Anh V2, chữ ký ông Phạm Ngọc H (Phó trưởng công an) và hình dấu đỏ của Công an xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; có chữ ký của Đoàn Nguyễn Thiện Q1, Nguyễn Quang Đ và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Khối lượng mẫu vật niêm phong M=0,2079 gam;

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số 61H1-641.53, nhãn hiệu Honda, số loại Dream, màu sơn bạc đen, số khung LWGXCHL00136173, số máy LC150FMG01698279, loại xe hai bánh từ 50 - 175cm³, dung tích xi lanh 97 cm³, đã qua sử dụng (vật chứng tại thời điểm giao nhận: xe đã cũ, không gương chiếu hậu bên phải, không bửng, không baga, không ốp sườn);

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu hồng, số IMEI 1:35551522177881, số IMEI 2: 355515222177899. Gắn sim V3 có số seri: 8984048000060009107;

    Trả lại cho bị cáo Trương Minh T 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh đen, số IMEI 1: 869383036145456, số IMEI 2: 869383036145449. Gắn sim V3 có số seri: 8984048831007984508 và sim V3 có số seri: 8984048000908499347.

    (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2023)

  3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo phải nộp mỗi bị cáo 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 27/12/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - CQ CSĐT Công an H. Dầu Tiếng;
  • - CCTHA H. Dầu Tiếng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Nguyễn Minh Sơn

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thanh Hải Nguyễn Xuân Kiên Ngô Nguyễn Minh Sơn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 80/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q và ĐP bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger