|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2025/HS-ST
Ngày: 27/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Huy Luận.
2. Ông Nguyễn Văn Đô.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 72/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
VÕ NGỌC N
- sinh ngày 19/6/1993, tại tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Cha: ông Võ Ngọc T, sinh năm 1956; Mẹ: bà Nguyễn Thị N1 (đã chết); Vợ: Đinh Thị Hồng H, sinh năm 1995 (không đăng ký kết hôn); Con: Đinh Xuân T1, sinh năm 2011; A, chị, em ruột: có 10 người, bị cáo là con thứ chín trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 01/10/2024, chuyển tạm giam ngày 10/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 01/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Võ Ngọc N mượn xe mô tô biển số 86H7-6607 của anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1972, cùng trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, là anh rể của N) đi đến khu vực Trung tâm B (thuộc phường P, thành phố P) tìm gặp người phụ nữ tên C để mua ma túy về sử dụng. Gặp C, N hỏi: “Có bán ma túy đá không lấy cái trăm rưỡi” thì Cưỡng nói: “Có”. Lúc này, N đưa cho C một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, C nhận tiền rồi nói N đứng chờ. Cưỡng bỏ đi, khoảng 15 phút sau, C quay lại và ném về phía Non một tép ma túy đá đựng trong đoạn ống nhựa màu xanh, hàn kín và nói: “Ma túy nè” rồi đưa lại cho N 50.000 đồng tiền thừa, nói xong C bỏ đi. Sau đó, N nhặt tép ma túy lên cất vào túi quần phía trước bên trái của N đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số 86H7-6607 đi chơi. Khi N đi đến hẻm S, đường V thuộc khu phố A, phường P, thành phố P thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường P kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên trái N đang mặc có 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh, hàn kín, bên trong đoạn ống nhựa chứa tinh thể màu trắng nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và tạm giữ những đồ vật có liên quan đưa N về trụ sở Công an phường P làm việc. Quá trình điều tra, Võ Ngọc N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng của vụ án:
Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái Võ Ngọc N đang mặc:
- 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh, hàn kín, kích thước khoảng (0,5x2,5)cm, bên trong đoạn ống nhựa có chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M khi giám định), Võ Ngọc N khai nhận đây là ma túy đá N mua về để sử dụng.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động loại cảm ứng màu đen, không nhãn hiệu, chứa sim số 0333750139, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave a 110, biển số 86H7-6607, số khung và số máy không xác định được.
Tại Kết luận giám định số 1276/KL-KTHS ngày 07/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,2832 gam là Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 1335/KL-KTHS ngày 30/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Tại thời điểm giám định: số khung, số máy của xe máy hiệu Wave a 110, biển số 86H7-6607 không bị cắt, hàn, tẩy xóa, đóng, đục.
2
Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh, hàn kín, kích thước khoảng (0,5x2,5)cm đã cắt lấy mẫu; 0,2142 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 1276 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã chuyển số vật chứng trên đến Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động loại cảm ứng màu đen, không nhãn hiệu, bên trong chứa sim số 0333750139 là điện thoại của N, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại cho N.
- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave a 110, biển số: 86H7-6607 quá trình điều tra xác định: chủ sở hữu là anh Phan Quang Đ (sinh năm 1980, trú tại khu phố D, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận). Vào năm 2013, anh Phan Quang Đ đã bán xe mô tô nêu trên cho anh Nguyễn Văn T2 (là anh rể N). Khi bán xe, giữa anh Đ và anh T2 chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 01/10/2024, anh T2 cho Võ Ngọc N mượn chiếc xe trên để đi công việc. Việc N sử dụng xe mô tô trên đi mua ma túy về sử dụng thì anh T2 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại chiếc xe trên cho anh T2. Anh T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSPT-HS ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố: Bị cáo Võ Ngọc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
1. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Võ Ngọc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt: Bị cáo Võ Ngọc N từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 1276 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, là vật Nhà nước cấm lưu hành.
2. Bị cáo Võ Ngọc N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Ngọc N thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Vào khoảng 18 giờ ngày 01/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Võ Ngọc N điều khiển xe mô tô biển số 86H7-6607 đi đến khu vực Trung tâm B thuộc phường P, thành phố P tìm gặp người phụ nữ tên C để mua ma túy. Sau khi mua được ma tuý thì N cất vào túi quần phía trước bên trái của N đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi chơi. Khi N đi đến hẻm S, đường V thuộc khu phố A, phường P, thành phố P thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố P phối hợp với Công an phường P kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của N có 01 đoạn ống nhựa màu xanh, hàn kín, bên trong đoạn ống nhựa chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N, tạm giữ những đồ vật có liên quan và đưa N về trụ sở Công an phường P làm việc. Quá trình điều tra, Võ Ngọc N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai là tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng, không nhằm mục đích bán cho người khác.
Bị cáo Võ Ngọc N có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2832 gam ma tuý là Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Như vậy, hành vi của Võ Ngọc N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Võ Ngọc N về nhân thân chưa có tiền án tiền sự, bị cáo biết rõ Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán, vận chuyển, trái phép các loại ma túy vì tác dụng nguy hại của nó đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng trái phép. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét mức hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên là hoàn toàn phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra nên được chấp nhận. Vì vậy, cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng và phòng chống tội phạm nói chung.
[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật Nhà nước cấm lưu hành: 01 (một) phong bì niêm phong số 1276 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B. (Vật chứng được nhập kho tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 109 ngày 11 tháng 02 năm 2025).
[8] Đối với đối tượng tên C là người đã bán ma túy cho Võ Ngọc N, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo Võ Ngọc N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo Võ Ngọc N có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Võ Ngọc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Võ Ngọc N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2024.
Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 1276 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 109 ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
Về án phí: Buộc bị cáo Võ Ngọc N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thùy Dung |
6
Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 80/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Ngọc Non phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
