|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2023/HS-ST
Ngày 26 - 12 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hồng Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phạm Văn Liệt.
2/ Ông Ngô Văn Khon.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Giang - Thư ký tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hoàng N (tên gọi khác: không), sinh năm 1997, tại tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh H, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965; đang sống chung như vợ chồng với Mai Thị Thúy A, sinh năm 1992; có 01 con (chưa đặt tên) sinh ngày 22/11/2023; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện nay, bị cáo đang tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Anh Huỳnh Tường V, sinh năm 2000.
Nơi cư trú: Ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Tống Thành H1, sinh năm 2002.
Nơi cư trú: Ấp Thị, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
2. Anh Võ Huy H2, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.
3. Anh Lâm Kiến H3, sinh năm 1991.
Nơi cư trú: Ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
4. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1966.
Nơi cư trú: Ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 21/01/2023 anh Tống Thành H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter (không rõ biển số) mượn của người bạn tên K (không rõ họ tên, địa chỉ) chạy trên Quốc lộ C, hướng C đi Hồ N chở bị cáo Lê Hoàng N và anh Võ Huy H2 đến nhà anh Lâm K1 H3 ngụ ấp B, xã A, huyện T để nhậu.
Khi đến đoạn sạt lỡ thuộc ấp B, xã A thì bị cáo N nhìn thấy ông Huỳnh Văn T đang đứng bên lề đường vừa muốn qua đường, vừa muốn dừng lại nên bị cáo N nói “Có đi qua thì đi, không đi thì dừng lại cho người ta chạy qua”. Sau đó, anh H1 tiếp tục điều khiển xe chở bị cáo N và anh H2 đến nhà anh H3 cách đó khoảng 400m. Khi đến nhà anh H3 thì anh H1, anh H2 đi vào nhà, còn bị cáo N điều khiển xe loại Exciter nêu trên quay lại chỗ ông T để giải quyết mâu thuẫn. Khi đến nơi, bị cáo N dùng tay đánh ông T nên ông T dùng tàu dừa khô đánh lại. Thấy vậy, con ông T là anh Huỳnh Tường V từ trong nhà chạy ra thì bị bị cáo N dùng chìa khóa xe có chiều dài khoảng 05-07cm đang cầm tay đâm trúng vào vùng thái dương trái của anh V.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số: 09/KLTgTHS-TTPY ngày 04/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Huỳnh Tường V, như sau:
- + Nứt xương thái dương trái. Tỷ lệ tổn thương 08%.
- + Máu tụ dưới màng cứng bán cầu đại não trái. Tỷ lệ tổn thương 08%.
- + Dập xuất huyết não thái dương trái. Tỷ lệ tổn thương 05%.
- + Vết thương phần mềm dùng thái dương trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 01%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20% tại thời điểm giám định, áp dụng phương pháp cộng lùi theo Thông tư số 22 ngày 28/8/2019 của Bộ Y; các tổn thương trên có thể do vật tày có cạnh gây ra.
* Về vật chứng thu giữ và xử lý gồm: Chìa khóa xe loại Exciter có chiều dài khoảng 05-07cm, sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo N đã trả cho người tên K (không rõ họ tên, địa chỉ). Cơ quan điều tra không làm việc được với K nên không thu giữ và xử lý.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Huỳnh Tường V đã nhận từ bị cáo Lê Hoàng N tiền bồi thường gồm: Chi phí điều trị, chi phí đi lại, ngày công lao động với số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo N.
Tại Bản cáo trạng số: 79/CT-VKSTB ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố bị cáo Lê Hoàng N ra trước Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nguyên nhân điều kiện dẫn đến phạm tội và nhân thân của bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Hoàng N từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm tù giam. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết như phần Quyết định của Cáo trạng.
Trong phần tranh luận, bị cáo Lê Hoàng N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Lê Hoàng N nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị hại và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, người bị hại và người làm chứng đã cung cấp lời khai đầy đủ quy định của pháp luật. Cho nên, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Mặt khác, tại phiên tòa bị cáo thống nhất tiếp tục việc xét xử vụ án. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng N khai nhận hành vi của mình như sau:
Vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 21/01/2023 bị cáo Lê Hoàng N dùng chìa khóa xe loại Exciter có chiều dài khoảng 05-07cm đâm trúng vào vùng thái dương trái của anh Huỳnh Tường V.
Bị cáo thống nhất với Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số: 09/KLTgTHS-TTPY ngày 04/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Huỳnh Tường V là 20% tại thời điểm giám định.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp và gây tổn hại sức khỏe cho bị hại. Bị cáo nhận thức rõ hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thấy được, biết được hậu quả nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra. Khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Chỉ vì, việc bị cáo không vừa ý với thái độ của ông T nên sau khi bị cáo đã đi qua khỏi nơi ông T đứng thì bị cáo tự điều khiển xe loại Exciter quay lại đánh ông T và sau đó bị cáo dùng hung khí là chìa khóa xe để gây thương tích cho bị hại Tường V. Như vậy, có cơ sở xác định hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ. Việc dùng hung khí nguy hiểm và thực hiện hành vi có tính chất côn đồ của bị cáo thuộc tình tiết định khung hình phạt.
Với những phân tích nêu trên, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Hoàng N có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người.
i) Có tính chất côn đồ”.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng nghiệm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ sức khỏe của con người là quyền được pháp luật bảo vệ. Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước nhưng vì bản chất hung hăng mà bị cáo đã gây tổn hại sức khỏe cho người bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%.
Vì vậy, cần thiết áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo để trở thành người tốt, có ích cho gia đình và trở thành một công dân có ích cho xã hội, đồng thời, nhằm răn đe giáo dục chung.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét thấy, trong quá trình điều tra và xét xử bị cáo Lê Hoàng N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, bị hại có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo, bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình về khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là có căn cứ chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt Lê Hoàng N 04 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Hoàng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Hồng Biên |
Bản án số 80/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 80/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
