Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 7- 2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Út Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Xứng

Bà Trần Thị Ngọc Trân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Ông Cao Phương Bình – Kiểm sát viên trung cấp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 49/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 28/9/2000. Địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn ông LEE JOON YOUNG, sinh ngày 14/12/1982. Địa chỉ: E, Y-dong, G-si, J-do, Hàn Quốc.

(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T trình bày:

Tháng 11/2018, bà T quen ông LEE JOON YOUNG qua mai mối, sau khi tìm hiểu hai bên có tình cảm nên tiến đến hôn nhân. Bà T và ông LEE JOON YOUNG tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 13/3/2019.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà T chung sống tại Việt Nam được 01 tuần thì ông LEE JOON YOUNG về Hàn Quốc, bà T ở lại Việt Nam 03 tháng để học ngôn ngữ Hàn Quốc. Đến tháng 5/2019 ông LEE JOON YOUNG về Việt Nam thăm bà T được 01 tuần thì về Hàn Quốc làm việc và không quay lại Việt Nam lần nào nữa. Thời gian đầu vợ chồng bà T còn liên lạc với nhau qua điện thoại, thời gian sau thì thưa dần và hiện nay không còn liên lạc. Sau khi ông LEE JOON YOUNG thăm bà T rồi trở về Hàn Quốc thì vợ chồng bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về phong tục tập quán, ngôn ngữ giao tiếp, ông LEE JOON YOUNG là người gia trưởng nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, chênh lệch về tuổi tác nên vợ chồng khó hòa hợp, khoảng cách địa lý xa nên khi có mâu thuẫn không có cơ hội giải quyết, cuộc sống vợ chồng không có tình cảm.

Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • - Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông LEE JOON YOUNG.
  • - Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn ông LEE JOON YOUNG: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ cho ông LEE JOON YOUNG về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh T, ấn định thời gian giải quyết vụ án để ông LEE JOON YOUNG biết. Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử sơ thẩm, ông LEE JOON YOUNG vắng mặt và Tòa án không nhận được văn bản trình bày ý kiến của ông LEE JOON YOUNG.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông LEE JOON YOUNG vắng mặt tại phiên tòa theo thủ tục ủy thác tư pháp. Căn cứ theo quy định tại các điều Điều 227, 228, 238 và 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T:

Qua các tài liệu, chứng cứ thể hiện bà Nguyễn Thị Minh T và ông LEE JOON YOUNG quen biết, tìm hiểu, thương nhau và tự nguyện kết hôn, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 13/3/2019. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Minh T và ông LEE JOON YOUNG là hợp pháp.

Bà T xác định, sau khi kết hôn ông LEE JOON YOUNG về lại Hàn Quốc sinh sống. Bà T và ông LEE JOON YOUNG có liên hệ qua lại với nhau nhưng do khác biệt về phong tục tập quán, ngôn ngữ giao tiếp, ông LEE JOON YOUNG là người gia trưởng nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, chênh lệch về tuổi tác nên vợ chồng khó hòa hợp, khoảng cách địa lý xa nên khi có mâu thuẫn không có cơ hội giải quyết. Do tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên bà T yêu cầu ly hôn. Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ, niêm yết, đăng trên cổng thông tin điện tử của Đ tại Hàn Quốc thông báo cho ông LEE JOON YOUNG biết về yêu cầu ly hôn của bà T, nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm ông LEE J1 vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Minh T và ông LEE JOON YOUNG đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà T được ly hôn với ông LEE JOON YOUNG.

[3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã tạm nộp.

[5] Về lệ phí ủy thác tư pháp: Bà T phải chịu chi phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng đã tạm nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 153, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Minh T được ly hôn với ông LEE JOON YOUNG.
  2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Minh T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Minh T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp, theo biên lai thu tiền số 0009766 ngày 06/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  4. Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Nguyễn Thị Minh T phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp là 200.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0016629 ngày 12/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  5. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Minh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông LEE JOON YOUNG có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Kiên Giang;
  • - UBND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Út Mẫn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 80/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn thu - young
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger