Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK MIL

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HSST.

Ngày 25-10-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh.

Ông Nguyễn Duy Chấn

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương - Thư ký TAND

huyện Đắk Mil.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Bà Niê

Đoan Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 25/10/2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk

Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày

11/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày

11/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Văn C; sinh ngày 01/5/1984 tại tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Tổ E,

phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn:

12/12; Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con

ông Lưu Thanh C1, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1952; Vợ là Lê Thị

Quỳnh N, sinh năm 1989 và 03 người con (con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ

nhất sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng biện pháp Cấm đi

khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo đang tại ngoại - Có mặt.

- Bị hại:

Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1983 – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Lưu Văn T, sinh năm 1988 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

Ông Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 1988 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố A, T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1968 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 22/6/2024, Lưu Văn C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu

JAC màu bạc, biển số 60C- 552.22, (xe mượn của anh Lưu Văn T là anh trai của C)

đến khu vực rẫy của anh Phạm Đình Bá D tại thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

để trộm cắp tài sản. Lưu Văn C vào trong chòi rẫy của anh D lấy 01 giàn sắt xi bằng

sắt V6, kích thước 0,7m x 1,1m hàn kiểu chữ A dài 0,7m có cầu trục dài 1,15m, có

hai mâm sắt gắn lốp cao su, trên giàn sắt xi có gắn máy nổ nhãn hiệu JANG DONG

30HP màu đỏ - xám và máy phát điện 3 pha nhãn hiệu A.CSYN

GHBBN04SGENEATOR 12KW màu xanh (là tài sản của anh Trần Văn Đ gửi nhờ

tại chòi rẫy của anh D) bỏ lên thùng xe ô tô rồi điều khiển xe chở về gửi tại nhà ông

Nguyễn Ngọc T2 ở thôn T, xã Đ, Tp ., tỉnh Đắk Nông.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS, ngày 10/7/2024 của Hội

đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông kết

luận: 01 giàn sắt xi; đặc điểm: Làm bằng sắt V6, kích thước 0,7m x 1,1m, hàn hình

chữ A dài 0,7m; có cầu trục dài 1,15m; có hai mâm sắt gắn lốp cao su; 01 máy phát

điện 3 pha màu xanh nhãn hiệu A.CSYN GHBBN04SGENEATOR 12KW; 01 máy

nổ màu đỏ - xám nhãn hiệu JANG DONG 30HP, có giá trị là 11.000.000 đồng (Mười

một triệu đồng).

Tại bản Cáo trạng số 78/TC-VKS (ĐM) ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Lưu Văn C về tội “Trộm cắp

tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lưu

Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS, Sau

khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại

diện viện kiểm sát đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1,

khoản 2 của Điều 51; Điều 65 của BLHS xử phạt bị cáo Lưu Văn C từ 09 tháng đến

01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính

từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106

Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 giàn sắt xi,

làm bằng sắt V6, kích thước 0,7m x 1,1m, hàn hình chữ A dài 0,7m, có cầu trục dài

1,15m, có hai mâm sắt gắn lốp cao su; 01 máy phát điện 3 pha màu xanh nhãn hiệu

A.CSYN GHBBN04SGENEATOR 12KW; 01 máy nổ nhãn hiệu JANG DONG

30HP, màu đỏ - xám; 01 xe ô tô tải nhãn hiệu JAC, biển số 60C - 552.22; 01 Giấy

chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60C - 552.22; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe

ô tô biển số 60C -5 52.22; 01 Pa lăng xích nhãn hiệu SHUANGGE HSO 5 TYPE

CHAIN BLOCK 0,5TON; 01 cây sắt hộp kích thước 04 x 06m; 01 cây sắt tròn đường

kính 4,9cm, dài 03m cho các chủ sử hữu hợp pháp.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Văn Đ không yêu cầu bị cáophải bồi

thường nên không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt

cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ

vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý

kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến

hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự,

thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị

hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại về hành vi,

quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành

vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện

đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá

trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với các chứng cứ đã thu thập

được có lưu trong hồ sơ vụ án. Vào khoảng 19 giờ ngày 22/6/2024, tại thôn X, xã Đ,

huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, bị cáo Lưu Văn C đã lén lút trộm cắp của anh Trần Văn Đ

01 giàn sắt xi, làm bằng sắt V6, kích thước 0,7m x 1,1m, hàn hình chữ A dài 0,7m, có

cầu trục dài 1,15m, có hai mâm sắt gắn lốp cao su; 01 máy phát điện 3 pha màu xanh

nhãn hiệu A.CSYN GHBBN04SGENEATOR 12KW; 01 máy nổ màu đỏ - xám nhãn

hiệu JANG DONG 30HP, có giá trị là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng). Hành

vi của bị cáo Lưu Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1

Điều 173 của BLHS.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo Lưu Văn C về tội “Trộm

cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp

luật.

Khoản 1 Điều 173 của BLHS sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến

dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường

hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng

đến 03 năm...”.

[3] Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp

xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và

làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách

nhiệm hình sự, bị cáo biết được việc xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của

người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, lười lao

động, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Trần Văn Đ.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên

tòa bị cáo Lưu Văn C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của

mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện

hành vi phạm tội bị cáo đầu thú; bị cáo gây thiệt hại không lớn; tài sản đã được thu

hồi và trả lại cho bị hại; bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo Bị

cáo được tặng Huy chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhì. Do đó bị cáo được áp dụng

các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, h, s khoản 1, khoản 2

Điều 51 của BLHS.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy không cần cách ly bị

cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mà chỉ cần cho bị cáo tự học tập,

cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng

đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo thể hiện, bị cáo không

có tài sản riêng. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị

cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

huyện Đ đã trả lại 01 giàn sắt xi, làm bằng sắt V6, kích thước 0,7m x 1,1m, hàn

hình chữ A dài 0,7m, có cầu trục dài 1,15m, có hai mâm sắt gắn lốp cao su; 01

máy phát điện 3 pha màu xanh nhãn hiệu A.CSYN GHBBN04SGENEATOR

12KW; 01 máy nổ màu đỏ - xám nhãn hiệu JANG DONG 30HP, màu đỏ - xám cho anh Trần

Văn Đ; trả lại 01 xe ô tô tải nhãn hiệu JAC, biển số 60C - 552.22; 01 Giấy

chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60C - 552.22; 01 Giấy chứng nhận kiểm

định xe ô tô biển số 60C -5 52.22; 01 Pa lăng xích nhãn hiệu SHUANGGE

HSO 5 TYPE CHAIN BLOCK 0,5TON; 01 cây sắt hộp kích thước 04 x 06m;

01 cây sắt tròn đường kính 4,9cm, dài 03m cho anh Lưu Văn T là các chủ sở

hữu hợp pháp là đúng quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên

HĐXX không xem xét.

[9] Đối với anh Lưu Văn T do không biết bị cáo sử dụng xe ôtô biển số 60C-

552.22 vào việc phạm tội và anh Nguyễn Ngọc T2 không biết tài sản bị cáo gửi là do

phạm tội mà có nên nên không có căn cứ xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của

Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn C 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử

thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/10/2024.

Giao bị cáo Lưu Văn C cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố G, tỉnh Đắk

Nông và gia đình bị cáo phối hợp, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 92

Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ

theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định

buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của BLHS; khoản 3 Điều 106

của BLTTHS. Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại

01 giàn sắt xi, làm bằng sắt V6, kích thước 0,7m x 1,1m, hàn hình chữ A dài 0,7m, có

cầu trục dài 1,15m, có hai mâm sắt gắn lốp cao su; 01 máy phát điện 3 pha màu xanh

nhãn hiệu A.CSYN GHBBN04SGENEATOR 12KW; 01 máy nổ nhãn hiệu JANG

DONG 30HP, màu đỏ - xám cho anh Trần Văn Đ; trả lại 01 xe ô tô tải nhãn hiệu

JAC, biển số 60C - 552.22; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60C -

552.22; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 60C -5 52.22; 01 Pa lăng xích

nhãn hiệu SHUANGGE HSO 5 TYPE CHAIN BLOCK 0,5TON; 01 cây sắt hộp kích

thước 04 x 06m; 01 cây sắt tròn đường kính 4,9cm, dài 03m cho anh Lưu Văn T.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS;

điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lưu Văn

C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời

hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày, kể

từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo

bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày

nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông.
  • - Phòng PV06; PC10 CA tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk Mil;
  • - CA huyện Đắk Mil;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk Mil;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Thị Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HSST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 80/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn C phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger