|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 08 – 2023
“Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Xuân Vĩnh
2. Ông Phan Duy Bản.
- Thư ký phiên tòa: ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 210/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 05 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 07 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 36/TB-TA, ngày 09 tháng 08 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1981, nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1989, nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.
-
Người có quyền lợi liên quan:
- - Cháu Nguyễn Hoài P, sinh ngày 07/4/2015;
- - Cháu Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh ngày 09/02/2017;
Cùng nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Cháu P và cháu L1 đều vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn S tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào tháng 07/2016. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng; không biết vì lý do gì mà anh S thường xuyên bỏ nhà đi trong khoảng thời gian dài, không quan tâm, chăm lo cho vợ con, gia đình; mặc dù chị L đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh S vẫn không thay đổi; từ năm 2020, chị L và anh S không còn chung sống với nhau cho đến nay, không còn liên lạc hoặc gặp nhau. Hiện nay, chị L không còn yêu thương anh S, nhận thấy cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc do đó chị L yêu cầu giải quyết ly hôn.
Về con chung: Chị L, anh S có 02 người con chung tên Nguyễn Hoài P, sinh ngày 07/4/2015 và Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh ngày 09/02/2017. Hai người con chung này sống với chị L từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau cho đến nay. Chị L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung này cho đến khi thành niên và không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị L đi làm công thuê cho người khác với mức thu nhập trung bình khoảng 3.000.000đ/tháng; chị L có nhà ở ổn định và có cha mẹ chị L phụ giúp nuôi con; do đó chị L đảm bảo nuôi dưỡng 02 người con chung được phát triển tốt. Hiện nay anh S không có việc làm, không có thu nhập ổn định.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị L không có yêu cầu nào khác trong vụ án.
[2]. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ đầy đủ Giấy triệu tập, văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Nguyễn Văn S không tham gia tố tụng và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của anh S và cũng không tiến hành hòa giải được.
[3]. Theo lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi liên quan cháu Nguyễn Hoài P trình bày:
Cháu P hiện đang sống với mẹ của cháu. Cháu P thấy cha của cháu đi làm từ khoảng 01 năm nay rất ít khi về thăm nhà. Nếu cha mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ của cháu vì mẹ của cháu chăm sóc cho cháu tốt hơn.
[4]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: bản sao Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2016 ngày 18/07/2016, bản sao Giấy khai sinh số 157/2015 và bản sao Giấy khai sinh số 42/2018 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương xã Đ về quan hệ hôn nhân, việc nuôi con của vợ chồng chị L, anh S và lập Biên bản xác minh ngày 12/06/2023 (Bút số 32).
[5]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L; xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn S; giao cho chị Nguyễn Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng 02 người con chung tên Nguyễn Hoài P, sinh ngày 07/4/2015 và Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh ngày 09/02/2017 cho đến khi thành niên; buộc chị L phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe các đương sự trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L, yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp.
Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2016, ngày 18/07/2016 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị L; có đủ cơ sở xác định được: chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn S tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị L, anh S là hợp pháp. Vì vậy, chị L có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L thừa nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng; anh S thường xuyên bỏ nhà đi trong khoảng thời gian dài, không quan tâm, chăm sóc cho gia đình và vợ chồng cũng đã không còn chung sống từ năm 2020 cho đến nay. Tại Biên bản xác minh lập ngày 12/06/2023 (Bút số 32), địa phương xã Đ, huyện T cũng đã cung cấp thông tin: vợ chồng chị L, anh S đã xảy ra mâu thuẫn từ khoảng năm 2020 đến nay; anh S đi làm ăn xa, ít quan tâm, chăm sóc cho gia đình; từ đó vợ chồng xảy ra cãi nhau và không còn chung sống với nhau. Ngoài ra trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị L cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn, không có nguyện vọng đoàn tụ, còn anh S vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được; điều này cho thấy chị L, anh S không có nguyện vọng đoàn tụ. Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng chị L, anh S đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị L yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận.
[3.2] Về con chung:
Căn cứ Giấy khai sinh số 157/2015 và Giấy khai sinh số 42/2018 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L; có đủ cơ sở xác định được: Chị L và anh S có 02 người con chung gồm: cháu Nguyễn Hoài P, sinh ngày 07/4/2015 và cháu Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh ngày 09/02/2017.
Căn cứ thông tin địa phương xã Đ, huyện T đã cung cấp tại các Biên bản xác minh ngày 12/06/2023 (Bút số 32) và căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn; có đủ cơ sở xác định được: cháu P và cháu L1 sống với chị L từ khi vợ chồng anh S, chị L không còn chung sống cho đến nay; đã gần gũi, quen thuộc, ổn định với nề nếp sinh hoạt, môi trường sống, môi trường giáo dục và cuộc sống với chị L. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng anh Nguyễn Văn S đều vắng mặt không có lý do, không tham gia tố tụng để trình bày ý kiến, nguyện vọng, thực hiện quyền yêu cầu của mình về việc nuôi con. Hơn nữa cháu P có nguyện vọng được sống với chị L. Do đó, yêu cầu của chị L về việc nuôi con là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung chưa thành niên, phù hợp với nguyện vọng của con chung chưa thành niên, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[4] Về án phí: Cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144, các Điều 227, 228, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L:
- Về việc ly hôn: chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
- Về việc nuôi con: giao cho chị Nguyễn Thị L có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 người con chung tên Nguyễn Hoài P, sinh ngày 07/4/2015 và Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh ngày 09/02/2017 cho đến khi thành niên. Anh Nguyễn Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0016097 ngày 22/05/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Khánh |
Bản án số 80/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 80/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L ly hôn Nguyễn Văn S
