|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày 25-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Thu Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Biên
- Ông Nguyễn Văn Tư
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hùng và ông Nguyễn Ngọc C- Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Thân Thị H, sinh năm 2004; tên gọi khác: Không có
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn L, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông: Thân Văn M, sinh năm 1972; con bà: Trịnh Thị H1, sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Thân Thị H: Luật sư Nguyễn Ánh T và luật sư Nguyễn Thị H2, thuộc Văn phòng L, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số B L, phường N, quận H, thành phố Hà Nội (có mặt)
2. Họ và tên: Lê Thị H3, sinh năm 1979; tên gọi khác: Không có
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; con ông: Lê Văn H4, sinh năm 1939 (đã chết); con
bà: Dương Thị Y, sinh năm 1942; có chồng: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979; bị cáo có 3 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 30/9/2023 đến ngày 09/10/2023 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt.
3. Họ và tên: Dương Văn Đ, sinh năm 2004; tên gọi khác: Không có
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 7/12; quốc tịch: Việt Nam dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Dương Văn P, sinh năm 1983; con bà: Lương Thị D, sinh năm 1983; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 30/9/2023 đến ngày 09/10/2023 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt.
* Bị hại:
- Bà Trịnh Thị H1, sinh năm 1973 (có mặt)
- Ông Thân Văn M, sinh năm 1972 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn L, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Sy, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Chị Thân Thị P1, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Lê Uyên N, sinh năm 2004 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Lê Văn H5, sinh năm 1977 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Đức K, sinh năm 1983 (vắng mặt)
- Ông Giáp Xuân T3, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
- Chị Thân Thị D1, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Dương Văn P, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Sy, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Anh Tống Văn T4, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thân Thị H và Nguyễn Văn T2, sinh năm 2002 trú tại thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có quan hệ tình cảm với nhau, dẫn đến H có thai. H có vay tiền của một số người để chi tiêu nhưng chưa trả nợ. Khoảng hơn 07 giờ ngày 21/9/2023, H mượn xe máy của bà Trịnh Thị H1 là mẹ của H đi mua đồ dùng cá nhân. H biết trong chùm chìa khóa xe máy có cả chìa khóa tủ quần áo của bà H1 nên đã lấy chiếc chìa khóa tủ này đồng thời tráo đổi một chiếc chìa khóa khác của H rồi gắn vào chùm chìa khóa xe máy. Theo H khai mục đích lấy chìa khóa là để mở tủ lấy căn cước công dân của H trong tủ quần áo của bà H1 sau đó sẽ sử dụng căn cước công dân để đi vay tiền. Sau khi mua đồ dùng cá nhân xong, H đi về nhà và trả lại xe máy cho bà H1.
Một lúc sau khi thấy bà H1 đi ra khỏi nhà, H đi đến tủ quần áo của bà H1 ở trong phòng phía Đông Bắc tầng 1. H dùng chìa khóa đã lấy trước đó mở ngăn cánh tủ trong cùng phía bên trái để tìm căn cước công dân nhưng không thấy. H nhìn thấy trong tủ có một chiếc túi vải màu xanh có quai xách nên mở ra kiểm tra thì thấy bên trong túi có 02 sợi dây chuyền vàng, mỗi dây chuyền 3 chỉ vàng, loại 9999. Đây là tài sản của bà Trịnh Thị H1 và ông Thân Văn M (là bố mẹ của H) mua từ nguồn tiền tiết kiệm của vợ chồng. H nảy sinh ý định trộm cắp 02 sợi dây chuyền vàng mang đi bán lấy tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân. H cầm 02 dây chuyền vàng đi ra ngoài sân lấy chiếc áo chống nắng mặc vào người rồi cất 2 dây chuyền vàng vào túi áo bên trái. Sau đó, H gọi điện cho Nguyễn Văn T2 bảo đến đón H đi có việc. Một lúc sau, T2 đi xe máy đến nhà H đón. Trên đường đi, T2 hỏi thì H nói đưa đi bán vàng. T2 hỏi nguồn gốc vàng thì H nói vay của chú ruột. T2 chở H đến cửa hàng V1 ở số nhà A, đường Q, phường T, thành phố B. T2 đứng chờ bên ngoài đường còn H đi vào gặp một người phụ nữ ở quầy bán vàng đặt vấn đề muốn bán hai dây chuyền vàng. Người phụ nữ cân kiểm tra 02 dây chuyền và thông báo có tổng khối lượng là 06 chỉ vàng. H bán hai dây chuyền vàng được 32.000.000 đồng. Sau khi bán vàng xong, H đi ra nói với T2 là bán được 16.800.000 đồng và đưa hết số tiền này cho T2 cầm để cùng sử dụng; số tiền bán vàng còn lại thì H tự giữ lại và không nói cho T2 biết. T2 cầm số tiền mà H đưa cho rồi cất vào trong ví. Sau đó, H bảo T2 chở đến nhà chị Lê Uyên N, sinh năm 2004, trú tại số nhà B, ngõ A, đường X, phường N, thành phố B để trả nợ do H vay tiền của chị N trước đó. Khi gặp nhau, H bảo T2 đưa ví cho H và lấy tiền trả nợ chị N 1.500.000 đồng. Sau đó, H bảo T2 chở đến phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thuê phòng trọ và hai người ở cùng nhau tại đây. T2 cùng H chi tiêu số tiền mà H đã đưa trước đó và còn giữ lại 10.000.000 đồng.
Ngày 23/9/2023, bà H1 phát hiện chìa khóa tủ đã được thay bằng chìa khóa khác nên không mở được. Bà H1 đi đến nhà ông Thân Văn T5, sinh năm 1956, trú tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang là thợ sửa khóa thay khóa tủ. Sau đó, bà H1 kiểm tra túi vải màu xanh thì phát hiện bị mất 02 dây chuyền vàng. Bà H1 nghi ngờ H trộm cắp nên gọi điện cho H hỏi thì H thừa nhận đã lấy trộm 02 dây chuyền vàng của bà H1 đem đi bán và hứa sẽ trả lại. Khoảng 17 giờ cùng ngày, H đi về nhà và kể lại cho mọi người trong gia đình việc H lấy vàng của bà H1 và đã bán được 32.000.000 đồng. Chị Thân Thị P1, sinh năm 1997 (là chị gái H) gọi điện thoại cho T2 nói về việc H lấy vàng của bà H1 đi bán và yêu cầu T2 trả lại tiền. T2 đến nhà bà H1 trả lại cho bà H1 10.000.000 đồng là số tiền mà H bán vàng đưa cho trước đó còn lại. Chị P1 nghi ngờ T2 xúi giục H trộm cắp nên yêu cầu T2 phải trả lại số tiền bằng với số tiền bán 02 sợi dây chuyền vàng thì sẽ bỏ qua. T2 đồng ý và hẹn đến ngày hôm sau sẽ trả nốt. Tuy nhiên do T2 không có tiền nên không trả hết tiền cho bà H1 như đã hứa.
Khoảng 10 giờ ngày 25/9/2023, bà H1 và chị P1 đi đến nhà ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979 và Lê Thị H3, sinh năm 1979 (là bố và mẹ T2) nói về việc H và T2 lấy vàng của bà H1 mang đi bán và đề nghị gia đình T2 có trách nhiệm trả tiền. Ông T1 và H3 nói T2 không tham gia trộm cắp vàng và đã T2 đã trả lại bà H1 10.000.000 đồng; việc H lấy vàng là do H tự ý lấy của bà H1 nên gia đình ông T1 không đồng ý bồi thường. Do vậy, bà H1 và chị P1 đi về.
Đến ngày 29/9/2023, ông Thân Văn M gọi điện cho Nguyễn Văn T2 đến nhà ông M để nói chuyện thì xảy ra vụ việc các đối tượng trong gia đình của T2 có hành vi gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã xác minh, điều tra làm rõ vụ việc.
Ngày 30/9/2023, Cơ quan điều tra tiến hành xác định hiện trường tại nhà bà Trịnh Thị H1 ở thôn L, xã S, thành phố B. Kết quả xác định tại phòng phía Đông Bắc tầng 1 có 01 chiếc tủ gỗ kích thước 1,5 x 2,1 x 0,53m gồm 3 cánh. Tại cánh tủ ngoài cùng phía T có 3 ngăn tủ có khóa cánh; tại ngăn tủ giữa có 01 túi vải màu xanh có quai cầm, có khóa kéo; túi vải này được xác định là vị trí Thân Thị H trộm cắp 2 sợi dây chuyền vàng của bà H1.
Ngày 30/9/2023, Cơ quan điều tra cho Thân Thị H thực nghiệm điều tra tại hiện trường về hành vi trộm cắp tài sản. Kết quả H thực hiện thuần thục các động tác dùng chìa khóa mở cốp xe máy, lấy từ trong ví ở cốp xe chiếc chìa khóa tủ, đánh tráo bằng chiếc chìa khóa khác; cầm chìa khóa tủ đi vào phòng ngủ trong cùng tầng 1 mở tủ lấy 02 sợi dây chuyền vàng để trong chiếc túi xách rồi đi ra ngoài sân lấy chiếc áo chống nắng và cất 02 sợi dây chuyền vàng vào túi áo bên trái.
Ngày 04/10/2023, Cơ quan điều tra đã cho Thân Thị H, Nguyễn Văn T2 xác định các vị trí khi đến cửa hàng vàng Tuấn V. Kết quả xác định T2 ngồi trên xe ở ngoài đường; H vào bên trong bán vàng. Hồng quan sát các nhân viên cửa hàng nhưng không xác định được ai đã giao dịch mua vàng do H bán ngày 21/9/2023.
Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản. Kết luận định giá tài sản số 205/KL-HĐ ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 02 (hai) sợ dây chuyền vàng ta loại vàng 9999, trọng lượng 03chỉ/01 sợi dây chuyền, chưa qua sử dụng trị giá tại thời điểm ngày 21/9/2023 là 33.600.000 đồng.
Đối với chiếc chìa khóa tủ mà H lấy của bà H1 sau đó sử dụng mở khóa tủ lấy vàng. Theo H khai để chiếc chìa khóa này trên bàn trong phòng ngủ của H nhưng sau đó tìm thì không thấy chiếc chìa khóa này ở trong phòng nữa. Do vậy, Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Tại phiếu kết quả siêu âm ngày 04/10/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B, xác định Thân Thị H đang mang thai được 6 tuần. Phiếu kết quả siêu âm ngày 06/01/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B, xác định Thân Thị H không còn mang thai, H khai nhận đã bị sảy thai trước đó vài ngày.
Về nguồn gốc số vàng bị trộm cắp: Quá trình điều tra, bà Trịnh Thị H1 khai trực tiếp đi mua 2 sợi dây chuyền vàng tại cửa hàng V1 vào đầu năm 2023 từ số tiền mà vợ chồng bà H1 tiết kiệm được (đặc điểm là vàng 9999, mỗi sợi dây chuyền vàng khối lượng là 3 chỉ mua với giá 16.800.000 đồng) sau đó cất vào túi để trong tủ quần áo. Đến ngày 06/01/2024, bà H1 khai do H đưa tiền cho bà H1 mua vàng sau đó tiếp tục thay đổi lời khai là H đưa 02 sợi dây chuyền vàng cho bà H1 giữ hộ. Ông Thân Văn M ban đầu khai hai sợi dây chuyền vàng trên là của bà H1 mua từ số tiền mà ông M và bà H1 tiết kiệm được. Sau đó, ông M khai hai sợi dây chuyền vàng là của H gửi nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh.
Đối với Thân Thị H khai tự ý trộm cắp hai sợi dây chuyền của bà H1 rồi mang đi bán lấy tiền tiêu và trả nợ; H không bàn bạc với T2 về việc trộm cắp; H chỉ nói cho T2 biết lấy vàng của bà H1 sau khi đã bán vàng xong. Sau đó, H khai nguồn gốc hai sợi dây chuyền là do H mua. Sau khi bị bắt tạm giam, H khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội. H khai việc thay đổi lời khai do bà H1 có bàn bạc với H do không muốn H bị xử lý hình sự. Căn cứ kết quả điều tra đủ cơ sở xác định 02 sợi dây chuyền vàng mà H trộm cắp là tài sản của vợ chồng bà H1.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã được chị Thân Thị P1 cho 20.000.000 đồng để trả lại bà H1 và T2 đã trả lại bà H1 10.000.000 đồng. Bà H1 không yêu cầu H bồi thường và đề nghị để gia đình tự giải quyết dân sự. Bà H1 cũng không yêu cầu T2 bồi thường.
Đối với Nguyễn Văn T2: Khi được H nhờ chở đi bán vàng thì H nói vay của chú ruột; T2 được H đưa cho số tiền 16.800.000 đồng, hai người đã chi tiêu hết 6.800.000 đồng; đến ngày 23/9/2023 khi chị P1 gọi điện thoại sang nhà nói chuyện thì T2 mới biết H trộm cắp vàng của bà H1 đem đi bán nên đã trả lại bà H1 10.000.000 đồng là số tiền còn lại do H đưa cho trước đó. Kết quả điều tra xác định T2 không đồng phạm với H và hành vi của T2 không cấu thành tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
II. Hành vi gây rối trật tự công cộng của Dương Văn Đ và Lê Thị H3:
Khoảng 22 giờ ngày 29/9/2023, ông Thân Văn M gọi điện cho Nguyễn Văn T2 đến nhà ông M để nói chuyện về việc H có thai và tìm hướng giải quyết. T2 rủ em họ là Dương Văn Đ, sinh năm 2004; em ruột là Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 2002 và cháu họ là Dương Văn H6, sinh năm 2007 cùng đi. Đến nơi, T2 đi vào trong nhà ông M còn Đ, Đ1, Hoàng đứng chờ ở bên ngoài cổng. Lúc này trong nhà ông M có ông M, bà H1, H, T2, bà Thân Thị D1 (là em gái ông M). Tại đây, ông M nói chuyện với T2 về việc H có thai khoảng 01 tháng; việc H và T2 lấy vàng của bà H1 mang đi bán thì T2 nói sẽ chịu trách nhiệm với việc H có thai và hứa sẽ trả lại tiền cho gia đình bà H1.
Lúc này, Đ và Đ1 đứng ở ngoài cổng nhìn thấy có người trong nhà ông M đi ra đóng cửa chính lại nên tưởng T2 bị nhốt trong nhà. Đ và Đ1 hô to yêu cầu mọi người mở cửa. Bà H1 đi ra nhắc nhở không được gây mất trật tự nhưng Đ và Đ1 vẫn đứng ngoài cổng liên tục có những lời nói to tiếng, xúc phạm gia đình ông M. Thấy vậy, bà H1 đã gọi điện thoại cho ông Nguyễn Đức K, cấp bậc Thiếu tá là cán bộ Công an xã S trình báo về sự việc có người đến gây mất trật tự. Ông K đã báo cáo ông Giáp Xuân T3, cấp bậc Thiếu tá là Phó trưởng Công an xã S sau đó ông K cùng ông Nguyễn Văn A - Công an xã S đi đến nhà bà H1 để nắm tình hình sự việc. Ông K, ông T3, ông Văn A đi vào trong nhà bà H1 gặp mọi người và hỏi diễn biến sự việc. Tại đây, bà H1 trình bày cho Ông K, ông T3, ông Văn A biết sự việc H lấy 06 chỉ vàng của bà H1 vào ngày 21/9/2023 rồi cùng T2 mang đi bán đồng thời T2 đã hứa hẹn trả lại tiền nhưng không thực hiện. Ông K quay sang hỏi H thì H thừa nhận đã lấy trộm vàng của bà H1 mang đi bán.
Khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, Dương Văn Đ gọi điện cho ông Dương Văn P, sinh năm 1983 (là bố của Đ) nói về việc Nguyễn Văn T2 bị gia đình ông M nhốt trong nhà và bị đánh (thực tế T2 không bị ai đánh). Ông P sau khi nghe điện thoại đã nhờ anh Tống Văn T4, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đi xe máy đưa đến cổng nhà ông M. Một lúc sau, Nguyễn Văn T1, Lê Thị H3 (là bố và mẹ T2); Lê Văn H5, sinh năm 1977 (là bác họ của T2); Nguyễn Văn B, sinh năm 1991 (là anh họ của T2) đi xe máy từ thôn S, xã N, huyện Y đến trước cổng nhà bà H1. Tại đây, Dương Văn Đ liên tục có nhiều lời nói to tiếng diễn ra
trong thời dài thách thức, lăng mạ lực lượng Công an, vu khống Công an đánh người; Đ chửi và hô to vu khống gia đình bà H1 dọa đánh giết người và nhiều câu nói xúc phạm, lăng mạ gia đình bà Hiệp đồng t dùng điện thoại di động quay video. Lê Thị H3 có nhiều lời nói to tiếng xúc phạm gia đình bà H1; chửi, thách thức lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ. Mặc dù được giải thích nhưng H3 vẫn cầm chiếc dép chỉ về phía lực lượng Công an liên tục xúc phạm, thách thức, vu khống Công an đánh người. Hường có lời nói xúc phạm, lăng mạ gia đình bà H1 gây mất an ninh trật tự. P và Đ1 cũng có một số lời nói to tiếng. Ông Nguyễn Văn A là cán bộ Công an xã S có mặt tại hiện trường đã sử dụng điện thoại di động ghi lại diễn biến sự việc. Công an xã S đã giải thích, yêu cầu những người liên quan không được gây mất trật tự và đi đến trụ sở Công an xã để làm việc. Lúc này, Đ có cầm điện thoại di động quay hình ảnh bà H1. Bà H1 yêu cầu Đ dừng lại nhưng Đ không nghe theo mà vẫn tiếp tục quay video. Do bức xúc nên bà H1 cầm chiếc dép nhựa đánh một cái vào vùng đầu Đ. Tại thời điểm xảy ra vụ việc thì nhiều người dân xung quanh đến xem và bức xúc việc các đối tượng ở xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đến gây mất trật tự trị an. Đến khoảng 0 giờ 15 phút ngày 30/9/2023, lực lượng Công an thành phố B đến tăng cường và yêu cầu những người liên quan về trụ sở để làm việc thì sự việc mới chấm dứt. Tại Cơ quan điều tra, Dương Văn Đ, Lê Thị H3 đầu thú và khai nhận hành vi gây rối trật tự công cộng.
Sau khi sự việc xảy ra, UBND xã S đã có văn bản số 157 ngày 30/9/2023 đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thành phố B xử lý các đối tượng về hành vi gây rối trật tự công cộng vì đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 03 file video được lưu trữ trong 01 USB do ông Nguyễn Đức K là cán bộ Công an xã S giao nộp quay lại diễn biến hành vi gây rối trật tự công cộng.
Kết luận giám định số 99/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 (ba) file video lưu trữ trong USB gửi giám định
- Nội dung các cuộc hội thoại trong 03 file video được dịch thành văn bản Cơ quan điều tra đã cho Dương Văn Đ, Lê Thị H3 xem các file video nêu trên. Kết quả, các bị can xác định có hình ảnh Đ và H3 có hành vi gây rối trật tự công cộng như đã khai. Quá trình điều tra, Đ và H3 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
* Về xử lý các đối tượng liên quan:
Đối với Dương Văn P, Nguyễn Văn Đ1 có một số lời nói to tại khu vực cổng nhà bà Trịnh Thị H1. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi của P và Đ1 chưa đến mức xử lý hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với bà Trịnh Thị H1 có hành vi cầm chiếc dép nhựa đánh vào vùng đầu của Dương Văn Đ nhưng không bị thương tích nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Nguyễn Văn T1, Lê Văn H5, Nguyễn Văn B, Dương Văn H6, Tống Văn T4 có mặt tại hiện trường nhưng không có lời nói, hành động gây mất an ninh trật tự nên Cơ quan điều tra không xử lý.
* Về xử lý các tài sản thu giữ:
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã tạm giữ của Nguyễn Văn H7: 01 chiếc xe mô tô BKS 98B3 – 328.41 đăng ký mang tên Thân Thị T6 là vợ anh H7; tạm giữ của Nguyễn Văn B 01 chiếc xe mô tô BKS 98Y3 – 5105 đăng ký mang tên Thân Thị H8 là vợ anh B; tạm giữ của Nguyễn Văn Đ1 01 xe mô tô biển kiểm soát 98G1 – 093.74 Cơ quan điều tra đã trả lại những tài sản trên cho chủ sở hữu.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã tạm giữ của Nguyễn Văn Đ1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 là tài sản hợp pháp của Đ1; tạm giữ của Dương Văn Đ 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B3 – 046.44 và 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus; tạm giữ của Lê Thị H3 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B1 – 955.42 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel. Những tài sản nêu trên được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Bản Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố:
Đối với Thân Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
Đối với Lê Thị H3 và Dương Văn Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, các bị cáo biết mình sai, vi phạm pháp luật.
Ông M và bà H1 là bị hại trình bày: Ông bà bị mất 6 chỉ vàng 9999 vào ngày 21/9/2023 là tài sản của ông, bà. H là người lấy số vàng trên, ông bà đã nhận lại giá trị tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H và các bị cáo phạm tội gây rối trật tự công cộng.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo Thân Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Lê Thị H3 và
Dương Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tựu công cộng” và giữ nguyên quyết định như đã truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Thân Thị H từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị H3 và Thân Văn Đ2.
Xử phạt bị cáo Lê Thị H3 từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Dương Văn Đ từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm đến 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã được chị Thân Thị P1 cho 20.000.000 đồng để trả lại bà H1 và T2 đã trả lại bà H1 10.000.000 đồng. Bà H1 không yêu cầu H bồi thường và đề nghị để gia đình tự giải quyết dân sự. Bà H1 cũng không yêu cầu T2 bồi thường nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 của Đ1 không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại Đ1.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B3 – 046.44 không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại bị cáo Dương Văn Đ
- 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus Đức dùng liên lạc gọi người thân đến Gây rối trật tự công cộng nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B1 – 955.42 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại bị cáo Lê Thị H3
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với Dương Văn P, Nguyễn Văn Đ1 có một số lời nói to tại khu vực cổng nhà bà Trịnh Thị H1. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi của P và Đ1 chưa đến mức xử lý hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với bà Trịnh Thị H1 có hành vi cầm chiếc dép nhựa đánh vào vùng đầu của Dương Văn Đ nhưng không bị thương tích nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Văn T1, Lê Văn H5, Nguyễn Văn B, Dương Văn H6, Tống Văn T4 có mặt tại hiện trường nhưng không có lời nói, hành động gây mất an ninh trật tự nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Do bị cáo H đang bị tạm giam nhưng được hưởng án treo nên căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, n, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Thân Thị H 01 (một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 3 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị H3 07 (B1) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thửa thách.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Văn Đ 07 (B1) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thửa thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS.
- Trả lại Nguyễn Văn Đ1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11
- Trả lại bị cáo Dương Văn Đ 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B3 – 046.44.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus
- Trả lại bị cáo Lê Thị H3 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B1 – 955.42 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.
4. Về án phí: Áp dụng các Điều 136, Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo H, H3, Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Thu Thuỷ |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự: trộm cắp tài sản và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Trộm cắp tài sản và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thân Thị Hồng
