Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HSST

Ngày: 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Ngọc Phan

2. Ông Nguyễn Hồng Thăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Huyền My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Hiếu- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 24/02/1984 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn H (đã chết) và con bà Trần Thị S, sinh năm 1951; bị cáo có vợ thứ nhất là Mạc Thị Thanh T1, sinh năm 1984 (đã ly hôn), vợ thứ hai là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985 (đã ly hôn); bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền sự: Không

Tiền án: 03

  • + Tại bản án số 229/2010/HSST ngày 24/8/2010, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2014.
  • + Tại bản án số 84/2016/HSST ngày 30/8/2016, Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên (nay là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 48 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tại bản án số 147/2016/HSPT ngày 15/11/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên chấp nhập kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo T 54 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản".
  • + Tại bản án số 69/2016/HSST ngày 16/9/2016, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 26/12/2016 tại Quyết định tổng hợp bản án số 02/2016/QĐ –CA, Chánh án Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên ra Quyết định tổng hợp hình phạt 54 tháng tù tại bản án số 147/2016/HSPT ngày 15/11/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và hình phạt 05 năm tù tại bản án số 69/2016/HSST ngày 16/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên buộc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù tính từ ngày 24/4/2016. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/2023.

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo bị bắt từ ngày 03/7/2024 cho đến nay (Có mặt)

* Bị hại:

  • Ông Trần Văn L, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
  • Anh Dương Đình T3, sinh năm 1994; nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
  • Anh Ứng Trần Hoài V, sinh năm 2001; nơi cư trú: TDP P, phường L, TP ., Thái Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 28/3/2024, Ngô Văn Đ (sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) rủ Trần Văn T đến khu vực huyện P, tỉnh Thái Nguyên để trộm cắp cây cảnh bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, T đồng ý. Thức điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B1 -347.97 chở Đ ngồi sau đi dọc theo Quốc lộ C. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực ngã tư thị trấn H, huyện P nhìn thấy bên cạnh cửa nhà ông Trần Văn L có 01 (một) cây mộc hương ta được trồng trong chậu và tại vỉa hè phía đối diện gần bờ sông Đào có 01 (một) cây mộc hương ta được trồng trong chậu, TĐ nảy sinh ý định lấy trộm hai cây mộc hương trên. TĐ ngồi đợi ở ghế đá trên vỉa hè, khoảng 05 phút sau T chở Đ đi quanh khu vực đó tiếp tục quan sát chờ thuận lợi để lấy trộm hai cây mộc hương. Khoảng 02 giờ 30 phút, T chở Đ đến vị trí cách cây mộc hương cạnh nhà ông L khoảng 30m thì Đ bảo T dừng xe, T điều khiển xe theo sau Đ rồi đỗ xe phía đối diện để đợi Đ. Đ xuống xe đi đến chỗ cây mộc hương cạnh cửa nhà dân nhổ trộm rồi mang đến để cạnh xe của T, rồi tiếp tục nhổ trộm cây mộc hương ở gần bờ sông. Sau khi lấy trộm được hai cây mộc hương, T điều khiển xe chở Đ ôm hai cây mộc hương đi về. Trên đường về, Đ chỉ đường để T điều khiển xe đến nhà anh Dương Đình T3 (sinh năm 1994; nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên). Đến nơi T dừng xe và đứng đợi ngoài cổng, còn Đ ôm cây vào bán cho anh T3 02 cây mộc hương được 500.000 đồng. Số tiền trên ĐT tiêu sài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất 02 cây mộc hương, ông L đến Công an thị trấn H trình báo.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01(một) cây mộc hương có chiều cao 2,25m (tính từ gốc cây đến ngọn cây) thoát thân 05cm (tính từ gốc cây đến điểm chia cành gần nhất), chu vi gốc cây là 16cm, cây có 03 thân, thân và cành cây màu xám, lá cây màu xanh, loại mộc hương ta, còn sống. Thời điểm định giá: tháng 3/2024, giá tài sản là 650.000 đồng và 01(một) cây mộc hương có chiều cao 1,98m (tính từ gốc cây đến ngọn cây) thoát thân 10cm (tính từ gốc cây đến điểm chia cành gần nhất), chu vi gốc cây là 11cm, cây có 02 thân, thân và cành cây màu xám, lá cây màu xanh, loại mộc hương ta, còn sống. Thời điểm định giá: tháng 3/2024, giá tài sản là 650.000 đồng. Tổng cộng là 1.300.000 đồng

Tại cơ quan điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của Đ, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra.

Ông Trần Văn L trình bày: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 28/3/2024, tôi mở cửa bán hàng phát hiện bị mất 02 cây mộc hương ta, tôi đã tìm kiếm nhiều ngày không thấy nên đến ngày 04/4/2024 tôi trình báo Công an thị trấn H để giải quyết. Nay tôi đã nhận lại tài sản là 02 cây mộc hương. Về trách nhiệm dân sự tôi không có yêu cầu bồi thường gì khác.

+ Anh Dương Đình T3 trình bày: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 28/3/2024, có anh Đ nhà ở thành phố T gọi điện bảo đến chơi. Sau đó tôi thấy anh Đ vào nhà tôi có đem theo 02 cây mộc hương bảo muốn bán. Tôi có hỏi cây ở đâu, anh Đ nói hai cây của nhà do cần tiền nên bán. Tôi thấy bảo cây của nhà nên đồng ý mua hai cây mộc hương với giá 500.000 đồng là số tiền do tôi lao động mà có. Tôi không có hứa hẹn, trao đổi thống nhất gì với Đ về việc mua bán hai cây mộc hương. Nay tôi đề nghị anh Đ bồi thường cho tôi số tiền 500.000 đồng, ngoài ra tôi không có yêu cầu đề nghị gì khác.

+ Anh Ứ Trần Hoài V trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, BKS 20B1-347.97, đã qua sử dụng là của mẹ tôi (bà Trần Thị H1). Khi mẹ tôi chết, tôi là người quản lý và sử dụng chiếc xe trên. Khoảng giữa năm 2023, tôi có cho cậu ruột tôi là Trần Văn T mượn để làm phương tiện đi lại. Việc cậu tôi sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản tôi không được biết. Tôi đề nghị xin lại chiếc xe trên để tôi quản lý và sử dụng.

* Vật chứng của vụ án:

  • + 01 (một) cây mộc hương có chiều cao 2,25m, thoát thân 05cm, chu vi gốc cây là 16cm, cây có 03 thân, thân và cành cây màu xám, lá cây màu xanh, loại mộc hương ta, còn sống.
  • + 01 (một) cây mộc hương có chiều cao 1,98m, thoát thân 10cm, chu vi gốc cây là 11cm, cây có 02 thân, thân và cành cây màu xám, lá cây màu xanh, loại mộc hương ta, còn sống
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, BKS 20B1-347.97, đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) áo mưa màu đỏ loại áo trùm người, đã qua sử dụng; 01 đôi giày giả da màu trắng, đế cao su màu trắng bên trên giày có in chữ “LOUIS VUITTON Paris” đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ nửa đầu, có họa tiết màu trắng in chữ “adidas” đã qua sử dụng do T giao nộp được niêm phong trong thùng catton ký hiệu A2.
  • + 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ nửa đầu có in chữ “VALENTINO” màu trắng, đã qua sử dụng do Đ giao nộp được niêm phong trong thùng catton ký hiệu A3.

* Về trách nhiệm dân sự:

  • + Ông Trần Văn L không yêu cầu bị cáo bồi thường.
  • + Anh Dương Đình T3 yêu cầu Đ bồi thường số tiền 500.000 đồng.

Cáo trạng số 82/CT -VKSPB ngày 10 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 28/3/2024 sau khi cùng Đ uống rượu, Đ rủ xuống khu vực huyện P để xem nhà nào có cây để sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, T đồng ý. T điều khiển xe mô tô BKS 20B1 -347.97 chở Đ ngồi sau đi dọc theo Quốc lộ C. Khi đi đến khu vực ngã tư thị trấn H, huyện P phát hiện có 01(một) cây mộc hương ta được trồng trong chậu để trước cửa nhà dân và phía đối diện gần bờ sông Đào có 01 (một) cây mộc hương ta được trồng trong chậu, TĐ nảy sinh ý định lấy trộm hai cây mộc hương trên. TĐ ngồi quan sát khoảng 05 phút thì T điều khiển xe chạy xung quanh tiếp tục quan sát không thấy ai thì T dừng xe cách chỗ cây mộc hương khoảng 30 mét, Đ xuống xe và đi đến chỗ hai cây mộc hương nhổ trộm rồi đi đến chỗ T đang đứng đợi. Khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô còn Đ ôm hai cây mộc hương vừa trộm được ngồi phía sau mục đích mang đi bán. Khi đi đến nhà người đàn ông tên T3 thì T dừng xe đứng ở cổng còn Đ mang hai cây mộc hương bán cho T3 với giá 500.000 đồng. Số tiền trên TĐ tiêu sài cá nhân hết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ngô Văn Đ trình bày: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 28/3/2024, tôi có rủ T đi xuống huyện P xem nhà nào có cây cảnh để sơ hở thì trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu sài, T đồng ý. T điều khiển xe mô tô, Đ ngồi phía sau. Khi đi đến thị trấn H, huyện P phát hiện có hai cây mộc hương trồng trong chậu đặt trên vỉa hè. Đ trực tiếp nhổ trộm hai cây mộc hương, sau đó đi đến chỗ T đứng chờ rồi cả hai lên xe do T điều khiển đi đến nhà Dương Đình T3 là bạn của Đ bán cho T3 hai cây mộc hương với giá 500.000 đồng. Số tiền trên ĐT tiêu sài cá nhân hết. Nay anh T3 đề nghị tôi trả cho anh số tiền 500.000 đồng, tôi sẽ có trách nhiệm trả cho T3, không yêu cầu T liên đới bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo T từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

* Về vật chứng của vụ án:

  • + Trả lại cho anh Ứ Trần Hoài V 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, BKS 20B1-347.97, đã qua sử dụng.
  • + Tịch thu tiêu hủy của bị cáo 01 (một) áo mưa màu đỏ loại áo trùm người, đã qua sử dụng; 01 đôi giày giả da màu trắng, đế cao su màu trắng bên trên giày có in chữ “LOUIS VUITTON Paris” đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ nửa đầu, có họa tiết màu trắng in chữ “adidas” đã qua sử dụng của T và 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ nửa đầu có in chữ “VALENTINO” màu trắng, đã qua sử dụng của Đ do không còn giá trị sử dụng.

* Về trách nhiệm dân sự:

  • + Ông L không yêu cầu bồi thường gì khác.
  • + Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 357, 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo T và anh Ngô Văn Đ liên đới bồi thường cho anh Dương Đình T3 theo quy định.

* Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm, anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử không oan, đúng người, đúng tội.

Phần lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà là hoàn toàn tự nguyện, khách quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 28/3/2024 tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn T cùng Ngô Văn Đ đã có hành vi lén lút trộm cắp 02 cây mộc hương ta có tổng trị giá 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng). Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo T đã bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích. Do đó, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) ........;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ nhận thức về hành vi của mình, song lười lao động lại muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên đã phạm tội. Xét cần phải xét xử bị cáo với mức án nghiêm phù hợp với hành vi bị cáo gây ra, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử nhiều lần về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Trong vụ án này bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “Gây thiệt hại không lớn”, “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng" do đó bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng hình phạt tiền. Tuy nhiên các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai tại phiên tòa xác định bị cáo không nghề nghiệp, không có tài sản. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án:

[6.1] 02 (hai) cây mộc hương đã được cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Văn L.

[6.2] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, BKS 20B1-347.97, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, xác định tài sản trên thuộc quyền sở hữu của anh V cho bị cáo T mượn để làm phương tiện đi lại. Khi T sử dụng xe thực hiện hành vi phạm tội, anh V không biết. Nay anh V có đơn xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại, xét cần trả lại chiếc xe trên cho anh V là phù hợp.

[6.3] 01 (một) áo mưa màu đỏ loại áo trùm người, đã qua sử dụng; 01 đôi giày giả da màu trắng, đế cao su màu trắng bên trên giày có in chữ “LOUIS VUITTON Paris” đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ nửa đầu, có họa tiết màu trắng in chữ “adidas” đã qua sử dụng do T giao nộp được niêm phong trong thùng catton ký hiệu A2. Xét thấy các đồ vật trên không còn giá trị sử dụng, bị cáo không nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6.4] 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ nửa đầu có in chữ “VALENTINO” màu trắng, đã qua sử dụng do Đ giao nộp được niêm phong trong thùng catton ký hiệu A3. Xét thấy các đồ vật trên không còn giá trị sử dụng, anh Đ không nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

[7.1]. Bị hại ông Trần Văn L không có yêu cầu bồi thường gì khác. Hội đồng xét xử không xem xét.

[7.2] Anh Dương Đình T3 yêu cầu Đ bồi thường số tiền 500.000 đồng. Xét thấy số tiền trên T, Đ cùng sử dụng nên phải liên đới bồi thường cho anh T3 (bị cáo T bồi thường 250.000 đồng, Đ bồi thường 250.000 đồng).

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm và anh Ngô Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác:

+ Đối với Ngô Văn Đ trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng, Đ chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nên hành vi của Đ không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 22/8/2024, Công an huyện P ra Quyết định số 0002706/QĐ –XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ theo quy định

+ Đối với Dương Đình T3, sinh năm 1994; nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên là người mua 02 cây mộc hương, khi mua T3 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không xem xét xử lý đối với Dương Đình T3.

+ Đối với anh Ứ Trần Hoài V là người đã cho T mượn xe mô tô BKS 20B1 - 347.97 làm phương tiện đi lại, anh V không biết T sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không xem xét xử lý đối với V.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
    Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
  2. Áp dụng điều luật và mức hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2024.

Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  1. Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự:
    1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng catton niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A2, bên trong có chứa 01 áo mưa màu đỏ loại áo trùm người, cũ đã qua sử dụng; 01 đôi giày giả da màu trắng, đế cao su màu trắng bên trên giày có in chữ “LOUIS VUITTON Paris”, cũ, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ nửa đầu, có họa tiết màu trắng in chữ “adidas”, cũ, đã qua sử dụng của Trần Văn T và 01 (một) thùng catton niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A3, bên trong có chứa 01 mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ nửa đầu có in chữ “VALENTINO” màu trắng, cũ, đã qua sử dụng của Ngô Văn Đ.
    2. Trả lại cho anh Ứ Trần Hoài V, sinh năm 2001; nơi cư trú: TDP P, phường L, thành phố S, Thái Nguyên 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, loại xe: hai bánh từ 50 -175cm³, màu sơn: đen bạc, BKS 20B1-347.97, số khung: RLHJC5214CY27786, số máy: JC52E4415905, dung tích xilanh: 109cm³, xe có đủ gương chiếu hậu cả hai bên, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và xăm lốp bên ngoài xe cũ, đã qua sử dụng (có 01 chìa khóa xe).

      (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/9/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự: Bị cáo và Ngô Văn Đ liên đới bồi thường cho Dương Đình T3, sinh năm 1994; nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). (Cụ thể: bị cáo T bồi thường số tiền 250.000 đồng; Ngô Văn Đ bồi thường số tiền 250.000 đồng)

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước. Ngô Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - Công an huyện Phú Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Bình;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Phú Bình;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 80/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger