Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 09 - 2024

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Huỳnh Minh Chánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Minh Hồng.
  2. Bà Trần Thị Bé Ba.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang là Thư ký Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Hôm nay, ngày 24 tháng 09 năm 2024 tại phòng xét xử Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 07 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 180/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 09 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Mỹ C, sinh năm 2003. (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  2. Bị đơn: Anh Đỗ Lê Nhật T, sinh năm 2003. (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Thị Mỹ C (gọi tắt là chị C) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước đây chị C và anh Đỗ Lê Nhật T quen nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, chị C và anh T có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 26/10/2023. Chị C và anh T chung sống hạnh phúc được khoảng 18 tháng thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng sống chung nhưng không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cải. Nên chị C và anh T đã ly thân với nhau, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị C quyết định ly hôn với anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống chị C và anh T có 01 con chung tên Đỗ Bùi Bích N (Giới tính: Nữ), sinh ngày 11/03/2022 hiện đang sống chung với chị C. Khi ly hôn C yêu cầu được nuôi con Đỗ Bùi Bích N, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị C khai có, nhưng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Chị C1 khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Bùi Thị Kim C2 có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Đỗ Lê Nhật T (gọi tắt là anh T) vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và có cung cấp bản tự khai: Anh T cũng thống nhất lời trình bày của chị C2 về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung và nợ chung.

Về nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T và chị C2 chung sống với nhau nhưng tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cải, nên nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa, nên anh T với chị C2 đã ly thân từ tháng 05 năm 2024 đến nay.

Tại bản tự khai anh T yêu cầu:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T đồng ý ly hôn với chị C2.

Về con chung: Hiện nay chị C2 đang nuôi con tên Đỗ Bùi Bích N, khi ly hôn anh T đồng ý để cho C2 tiếp tục nuôi con tên Bích N.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị C2 chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Bích N.

Về tài sản chung: Anh T khai có nhưng tự thoả thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh T khai không có, nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn và nuôi con chung”, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã L. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

    Nguyên đơn chị Bùi Thị Mỹ C và bị đơn anh Đỗ Lê Nhật T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nhưng có cung cấp bản tự khai. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn nhưng vẫn đảm bảo quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật.

  2. Về nội dung vụ án:

    1. Về quan hệ hôn nhân:

      Chị C và anh T tự nguyện kết hôn vào ngày 26/10/2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị C và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Chị C cho rằng mâu thuẫn giữa chị và anh T không thể hàn gắn, chị C không còn tình cảm đối với anh T và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên yêu cầu được ly hôn với anh T.

      Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập chị C và anh T nhiều lần để hòa giải, động viên anh, chị đoàn tụ nhưng anh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị C và anh T thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, cho thấy đời sống chung của vợ chồng chị C và anh T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ mà chị C yêu cầu xin ly hôn với anh T là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại phiên tòa, chị C và anh T có đơn xét xử vắng mặt thống nhất thuận tình ly hôn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C và anh T. Công nhận cho chị C và anh T được thuận tình ly hôn.

    2. Về con chung:

      Chị C và anh T có 01 con chung tên Đỗ Bùi Bích N (Giới tính: Nữ) sinh ngày 11/03/2022 hiện đang sống chung với chị C, khi ly hôn chị C yêu cầu được nuôi con Đỗ Bùi Bích N. Xét thấy, từ khi cháu Ngọc s ra cho đến khi chị C và anh T ly thân thì cháu Bích N được chị C chăm sóc, nuôi dưỡng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi con...”. Do đó, để tạo thuận lợi cho việc chăm sóc, giáo dục con chung, để đảm bảo lợi ích, sự ổn định trong cuộc sống và sự phát triển toàn diện của cháu nên anh T cũng đồng ý để cho chị C tiếp tục nuôi con Đỗ Bùi Bích N. Hội đồng xét xử thống nhất việc thoả thuận nuôi con giữa chị C và anh T, nên chị C được tiếp tục nuôi con Đỗ Bùi Bích N. Chị C chưa có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

    3. Về tài sản chung:

      Chị Bùi Thị Mỹ C và anh Đỗ Lê Nhật T khai có, nhưng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    4. Về nợ chung:

      Chị Bùi Thị Mỹ C và anh Đỗ Lê Nhật T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  3. Về án phí:

    Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị Mỹ C phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 227, 228, 147, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 55, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Mỹ C đối với bị đơn anh Đỗ Lê Nhật T.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Mỹ C và anh Đỗ Lê Nhật T.

  2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Bùi Bích N (Giới tính: Nữ), sinh ngày 11/03/2022 cho chị Bùi Thị Mỹ C được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Đỗ Lê Nhật T chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị C chưa yêu cầu. Anh Đỗ Lê Nhật T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

  3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Mỹ C và anh Đỗ Lê Nhật T khai có, nhưng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  4. Về nợ chung: Chị Bùi Thị Mỹ C và anh Đỗ Lê Nhật T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Bùi Thị Mỹ C phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp theo lai thu số 0007914 lập ngày 15/07/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.

  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - THADS thị xã Long Mỹ;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - UBND xã Long Trị A;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Minh Chánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 80/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trước đây chị C và anh Đỗ Lê Nhật T quen nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, chị C và anh T có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 26/10/2023. Chị C và anh T chung sống hạnh phúc được khoảng 18 tháng thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng sống chung nhưng không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cải. Nên chị C và anh T đã ly thân với nhau, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị C quyết định ly hôn với anh T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger