Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 80/2024/HSST

Ngày 24/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------------------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Duệ

Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Xuân Mai, bà Dương Thị Kim Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh năm 1988. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 4/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn T (chết); Con bà Nguyễn Thị S; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị Thu H; Có 03 con, con lớn sinh năm 2008; con nhỏ sinh năm 2016. Theo danh chỉ bản số 84 do Công an huyện M lập ngày 29/01/2024 và trích lục tiền án, tiền sự số 6374141/2024/PV06 ngày 13/3/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thì bị cáo: Không có tiền án, không có tiền sự; Tạm giữ: Từ ngày 28/01/2024 đến ngày 31/01/2024 ; Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

2/ Họ và tên: Trần Thanh T1, sinh năm 1978. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 9/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Trần Văn S1; Con bà Trần Thị T2; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là Nguyễn Thị H1; Có 02 con, con lớn sinh năm 1998; con nhỏ sinh năm 1999. Theo danh chỉ bản số 43 do Công an huyện M lập ngày 06/02/2024 và trích lục tiền án, tiền sự số 6372906/2024/PV06 ngày 13/3/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thì bị cáo: Không có tiền án, không có tiền sự; Nhân thân có 01 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 51/2011/HSST ngày 26/5/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 29 tháng, 12 ngày về tội “Đánh bạc”; Tạm giữ: Từ ngày 28/01/2024 đến ngày 06/02/2024; Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

3/ Họ và tên: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1982. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Hồng C; Con bà Trần Thị C1; Gia đình có 6 anh em, bị cáo là con thứ bốn; Vợ là Phạm Thị H2; Có 02 con; con lớn sinh năm 2006; con nhỏ sinh năm 2011. Theo danh chỉ bản số 92 do Công an huyện M lập ngày 07/02/2024 và trích lục tiền án, tiền sự số 6372998/2024/PV06 ngày 13/3/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thì bị cáo: Không có tiền án, không có tiền sự; Nhân thân có 01 tiền sự đã được xóa: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 324 ngày 17/9/2001, Công an huyện M xử phạt 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), về hành vi cố ý gây thương tích; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

4/ Họ và tên: Nguyễn Văn T4, sinh năm 1996. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Ngọc T5; Con bà Nguyễn Thị T6; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là Nguyễn Thị D; Có 2 con, con lớn sinh năm 2019; con nhỏ sinh năm 2024. Theo danh chỉ bản số 87 do Công an huyện M lập ngày 07/02/2024 và trích lục tiền án, tiền sự SO 6374082/2024/PV06 ngày 13/3/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thì bị cáo: Không có tiền án, không có tiền sự; Tạm giữ: Từ ngày 28/01/2024 đến ngày 03/02/2024 ; Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

5/ Họ và tên: Trần Quang B, sinh năm 1995. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 9/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Trần Văn S2; Con bà Nguyễn Thị C2; Gia đình có 5 chị em, bị cáo là con thứ năm (cùng cha khác mẹ); V, con: Chưa có. Theo danh chỉ bản số 83 do Công an huyện M lập ngày 07/02/2024 và trích lục tiền án, tiền sự số 6374155/2024/PV06 ngày 13/3/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thì bị cáo: Không có tiền án, không có tiền sự; Tạm giữ: Từ ngày 28/01/2024 đến ngày 03/02/2024; Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

6/ Họ và tên: Nguyễn Văn T7, sinh năm 1987. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn T8; Con bà Trần Thị N; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Lê Hoàng P; Có 2 con, con lớn sinh năm 2016; con nhỏ sinh năm 2019. Theo danh chỉ bản số 88 do Công an huyện M lập ngày 07/02/2024 và trích lục tiền án, tiền sự số 6374065/2024/PV06 ngày 13/3/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thì bị cáo: Không có tiền án, không có tiền sự; Tạm giữ: Từ ngày 28/01/2024 đến ngày 03/02/2024; Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

7/ Họ và tên: Nguyễn Văn S3, sinh năm 1982. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Xuân M; Con bà Nguyễn Thị C3; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị T9; Có 02 con; con lớn sinh năm 2009; con nhỏ sinh năm 2015. Theo danh chỉ bản số 85 do Công an huyện M lập ngày 07/02/2024 và trích lục tiền án, tiền sự số 6374116/2024/PV06 ngày 13/3/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thì bị cáo: Không có tiền án, không có tiền sự; Tạm giữ: Từ ngày 28/01/2024 đến ngày 06/02/2024; Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

8/ Họ và tên: Trần Văn T10, sinh năm 1982. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Trần Văn T11; Con bà Trần Thị C4; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Phạm Thị L1; Có 3, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2022. Theo danh chỉ bản số 78 do Công an huyện M lập ngày 22/02/2024 và trích lục tiền án, tiền sự số 6373049/2024/PV06 ngày 13/3/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thì bị cáo: Không có tiền án, không có tiền sự; Nhân thân: Có 01 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 138/2020/HSST ngày 24/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 12 tháng về tội “Đánh bạc”;Tạm giữ: Từ ngày 21/2/2024 đến ngày 26/3/2024; Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

9/ Họ và tên: Nguyễn Hữu B1, sinh năm 1977. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 4/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Xuân T12; Con bà Trần Thị Q; Gia đình có 8 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ là Nguyễn Thị B2; Có 3 con, con lớn nhất sinh năm 1999; con nhỏ nhất sinh năm 2009. Theo danh chỉ bản số 79 do Công an huyện M lập ngày 22/02/2024 và trích lục tiền án, tiền sự số 6374176/2024/PV06 ngày 13/3/2024 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thì bị cáo: Không có tiền án, không có tiền sự; Tạm giữ: Từ ngày 21/2/2024 đến ngày 26/3/2024; Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T3 (hộ cận nghèo): Ông Vũ Văn D1 – Trợ giúp viên pháp lý – Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 5 - Trung tâm trợ giúp Nhà nước thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo trạng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 28/01/2024, Nguyễn Văn L đang ở nhà thì có Trần Thanh T1, Nguyễn Văn T3 đến nhà L chơi và ăn uống. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày có thêm Nguyễn Văn T4, Trần Quang B đến nhà L chơi. Khi thấy nhiều người đến nhà, L rủ mọi người đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh xóc đĩa thì mọi người đồng ý. Lúc này, T1 không mang theo nhiều tiền nên T1 hỏi mọi người cho cầm cố xe mô tô để lấy tiền đánh bạc, tuy nhiên không ai cầm cố xe cho T1. Tiếp đó, có thêm Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 đến nhà L thì được mọi người rủ tham gia đánh bạc cùng. T10 và B1 đồng ý. Lúc này, T1 lấy vỏ bao thuốc lá Thăng L2 (loại bao bằng giấy cứng) và 01 chiếc kéo có sẵn tại bàn uống nước nhà L cắt 04 quân vị hình tròn từ vỏ bao thuốc Thăng Long. Còn L lấy 01 bát sứ và 01 đĩa sứ có sẵn trong nhà L mang ra để đánh bạc. Sau khi chuẩn bị xong công cụ đánh bạc, L cùng T1, T3, T4, B, T10 và B1 đi lên phòng ngủ ở tầng 2 nhà L ngồi trên tấm đệm được trải sẵn tại nền nhà để đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh xóc đĩa. Qúa trình đánh bạc, Nguyễn Văn T3 là người xóc cái cho Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T4, Trần Quang B, Trần Văn T10 và Nguyễn Hữu B1 trực tiếp thả tiền xuống cửa chẵn, cửa lẻ để đánh bạc. Khi các bị cáo đang đánh bạc thì lần lượt có Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn S3 đến tham gia đánh bạc cùng. Trần Thanh T1 không trực tiếp đánh bạc mà ngồi xem các bị cáo đánh bạc. Các bị cáo quy định luật chơi: bên tay phải người xóc cái là cửa chẵn, bên tay trái là cửa lẻ. Khi T3 xóc cái nếu có 04 quân vị hoặc 02 quân vị màu giống nhau thì cửa chẵn thắng; nếu 03 quân vị màu giống nhau, quân còn lại khác màu thì cửa lẻ thắng và ngược lại. Trong quá trình đánh bạc, Nguyễn Văn L thu tiền hồ phế của Nguyễn Hữu B1, Trần Văn T10, Nguyễn Văn T7, Trần Quang B mỗi người 100.000 đồng; thu của Nguyễn Văn T4 số tiền 50.000 đồng. Tổng số tiền là 450.000đ. Khi tham gia đánh bạc, L có 300.000 đồng, T7 có 2.155.000 đồng, S3 có 200.000 đồng, B có 400.000 đồng, T4 có 9.000.000 đồng, T10 có 600.000 đồng, B1 có 650.000 đồng. Khoảng 15 giờ 05 phút ngày 28/01/2024, khi các bị cáo đang đánh bạc sát phạt nhau thì bị Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện M phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang. Quá trình bắt giữ, bị cáo Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 bỏ chạy thoát thân. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật có liên quan và đưa các bị cáo về trụ sở để làm rõ. Ngày 21/02/2024, Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M bắt giữ.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện M, các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Thanh T1, Nguyễn Văn T3, Trần Quang B, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn S3, Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi pham tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 123/KLGĐ ngày 20/5/2024 của V1 kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Nguyễn Văn T3 bị bệnh Suy thận mãn tính/Động kinh toàn thể cơn lớn chưa có biến đổi nhân cách theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã N18/G40.6. Tại các thời điểm trên, bị can Nguyễn Văn T3 đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Căn cứ điều 5 Nghị định số 64/2001/NĐCP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh và Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 2015 về “Bắt buộc chữa bệnh”: Bị can Nguyễn Văn T3 không thuộc diện cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”.

* Vật chứng thu giữ: T3 tại chiếu bạc số tiền: 13.305.000 đồng; 01 (một) chiếc đệm (loại đệm gấp); 01 (một) chiếc kéo có lưỡi bằng kim loại, phần chuôi kéo bằng nhựa màu tím; 04 (bốn) quân vị hình tròn được cắt từ vỏ bao thuốc lá; 01 (một) chiếc đĩa sứ; 01 (một) chiếc bát sứ, bị vỡ thành nhiều mảnh. Toàn bộ số vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Trần Thanh T1, bản thân T1 không trực tiếp tham gia thả tiền đánh bạc, tuy nhiên T1 là người cắt 04 quân vị hình tròn từ vỏ bao thuốc Thăng Long làm công cụ phương tiện để cho các đối tượng đánh bạc. Hành vi của Trần Thanh T1 đồng phạm với các đối tượng về hành vi đánh bạc quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Văn T3 là người trực tiếp xóc cái cho các đối tượng đánh bạc, đang phải điều trị ngoại trú bệnh Động kinh. Tuy nhiên, như kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu của V1 thì Nguyễn Văn T3 vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1, Điều 321, Bộ luật Hình sự.

Tại bản cáo trạng số 73/CT-ML ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Thanh T1, Nguyễn Văn T3, Trần Quang B, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn S3, Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 về tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh giữ nguyên nội dung bản cáo trạng số 73/CT-ML ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát huyện M truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Thanh T1, Nguyễn Văn T3, Trần Quang B, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn S3, Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 phạm tội: “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

  1. Nguyễn Văn L từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
  2. Nguyễn Văn T3 từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
  3. Nguyễn Văn T7 từ 8 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng.
  4. Trần Quang B từ 8 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng.
  5. Nguyễn Văn S3 từ 8 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

  1. Nguyễn Văn T4 từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
  2. Nguyễn Hữu B1 từ 8 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

  1. Trần Văn T10 từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
  2. Trần Thanh T1 từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

- Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền: 13.305.000 đồng.
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chiếc đệm (loại đệm gấp); 01 (một) chiếc kéo có lưỡi bằng kim loại, phần chuôi kéo bằng nhựa màu tím; 04 (bốn) quân vị hình tròn được cắt từ vỏ bao thuốc lá; 01 (một) chiếc đĩa sứ; 01 (một) chiếc bát sứ, bị vỡ thành nhiều mảnh.

- Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật. Miễn giảm án phí cho bị cáo L và bị cáo T3.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T3 (hộ cận nghèo): Sau khi tham gia xét hỏi và tranh luận, nhất trí với bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo sửa chữa trở thành người công dân có ích cho xã hội. Miễn giản án phí cho bị cáo L, T3.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Thanh T1, Nguyễn Văn T3, Trần Quang B, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn S3, Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 28/01/2024, Nguyễn Văn L đang ở nhà thì có Trần Thanh T1, Nguyễn Văn T3 đến nhà L chơi và ăn uống. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày có thêm Nguyễn Văn T4, Trần Quang B đến nhà L chơi. Khi thấy nhiều người đến nhà, L rủ mọi người đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh xóc đĩa thì mọi người đồng ý. Lúc này, T1 không mang theo nhiều tiền nên T1 hỏi mọi người cho cầm cố xe mô tô để lấy tiền đánh bạc, tuy nhiên không ai cầm cố xe cho T1. Tiếp đó, có thêm Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 đến nhà L thì được mọi người rủ tham gia đánh bạc cùng; T10 và B1 đồng ý. Lúc này, T1 lấy vỏ bao thuốc lá Thăng L2 (loại bao bằng giấy cứng) và 01 chiếc kéo có sẵn tại bàn uống nước nhà L cắt 04 quân vị hình tròn từ vỏ bao thuốc Thăng Long. Còn L lấy 01 bát sứ và 01 đĩa sứ có sẵn trong nhà L mang ra để đánh bạc. Sau khi chuẩn bị xong công cụ đánh bạc, L cùng T1, T3, T4, B, T10 và B1 đi lên phòng ngủ ở tầng 2 nhà L ngồi trên tấm đệm được trải sẵn tại nền nhà để đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh xóc đĩa. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Văn T3 là người xóc cái cho Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T4, Trần Quang B, Trần Văn T10 và Nguyễn Hữu B1 trực tiếp thả tiền xuống cửa chẵn, cửa lẻ để đánh bạc. Khi các bị cáo đang đánh bạc thì lần lượt có Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn S3 đến tham gia đánh bạc cùng. Trần Thanh T1 không trực tiếp đánh bạc mà ngồi xem các bị cáo đánh bạc. Các bị cáo quy định luật chơi: bên tay phải người xóc cái là cửa chẵn, bên tay trái là cửa lẻ. Khi T3 xóc cái nếu có 04 quân vị hoặc 02 quân vị màu giống nhau thì cửa chẵn thắng; nếu 03 quân vị màu giống nhau, quân còn lại khác màu thì cửa lẻ thắng và ngược lại. Trong quá trình đánh bạc, Nguyễn Văn L thu tiền hồ phế của Nguyễn Hữu B1, Trần Văn T10, Nguyễn Văn T7, Trần Quang B mỗi người 100.000 đồng; thu của Nguyễn Văn T4 số tiền 50.000 đồng. Tổng số tiền là 450.000đ. Khoảng 15 giờ 05 phút ngày 28/01/2024, khi các bị cáo đang đánh bạc sát phạt nhau thì bị Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện M phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang. Quá trình bắt giữ, bị cáo Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 bỏ chạy thoát thân. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật có liên quan và đưa các bị cáo về trụ sở để làm rõ. Ngày 21/02/2024, Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M bắt giữ. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 13.305.000 đồng (T3 tại chiếu bạc 6.800.000 đồng và thu trên người bị cáo T4 4.000.000 đồng; thu trên người bị cáo T7 2.055.000 đồng; thu trên người bị cáo L 450.000 đồng). Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án; phù hợp với ý kiến phát biểu, lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa và phù hợp với nội dung vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Thanh T1, Nguyễn Văn T3, Trần Quang B, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn S3, Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 đã phạm tội: Đánh bạc. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự. Điều khoản này quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng .... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Đánh giá tính chất hành vi và mức độ phạm tội của từng bị cáo trong vụ án này cho thấy:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội đánh bạc với vai trò là chủ nhà; là người rủ rê; thu tiền hồ và tham gia đánh bạc; tự nhận khi tham gia đánh bạc có 300.000đ; khi bị bắt thu trên người có 450.000đ.
  • - Bị cáo Trần Thanh T1 phạm tội đánh bạc với vai trò là chuẩn bị công cụ cắt quân bài vị.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn T3 phạm tội đánh bạc với vai trò là người sóc cái.
  • - Bị cáo Trần Quang B phạm tội đánh bạc với vai trò là người tham gia đánh bạc; tự nhận khi tham gia đánh bạc có 400.000đ.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn T4 phạm tội đánh bạc với vai trò là người tham gia đánh bạc; tự nhận khi tham gia đánh bạc có 9.000.000đ; khi bị bắt thu trên người có 4.000.000đ.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn T7 phạm tội đánh bạc với vai trò là người tham gia đánh bạc; tự nhận khi tham gia đánh bạc có 2.155.000đ; khi bị bắt thu trên người có 2.055.000đ.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn S3 phạm tội đánh bạc với vai trò là người tham gia đánh bạc; bị cáo đến sau; tự nhận khi tham gia đánh bạc có 200.000đ.
  • - Bị cáo Trần Văn T10 phạm tội đánh bạc với vai trò là người tham gia đánh bạc; tự nhận khi tham gia đánh bạc có 600.000đ.
  • - Bị cáo Nguyễn Hữu B1 phạm tội đánh bạc với vai trò là người tham gia đánh bạc; tự nhận khi tham gia đánh bạc có 650.000đ.

Hành vi đánh bạc (tổng số tiền thu là 13.305.000 đồng) của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng mà nó còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình của các bị cáo và nó còn là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Vì vậy, phải xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc.

[4] Về nhân thân và tiền án, tiền sự các bị cáo:

  • + Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T4, Trần Quang B, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn S3, Nguyễn Hữu B1 đều không có tiền án, không có tiền sự đã được xóa.
  • Bị cáo Nguyễn Văn T3 có 01 tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 324 ngày 17/9/2001, Công an huyện M xử phạt 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), về hành vi cố ý gây thương tích.
  • Bị cáo Trần Thanh T1 có 01 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 51/2011/HSST ngày 26/5/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 29 tháng, 12 ngày về tội “Đánh bạc”.
  • Bị cáo Trần Văn T10 có 01 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 138/2020/HSST ngày 24/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 12 tháng về tội “Đánh bạc”.
  • + Về tiền án, tiền sự: Các bị cáo đều không có tiền án, không có tiền sự

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • + Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
  • + Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
  • Các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T4, Trần Quang B, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn S3, Nguyễn Hữu B1 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn T3 có bố đẻ đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng nhất, Hạng ba; Huy chương chiến sĩ giải phóng Hạng nhì, H3 ba. Bị cáo bị ảnh hưởng chất độc mầu ra cam.
  • + Bị cáo Trần Quang B tham gia quân đội 1 năm 6 tháng; là sĩ quan dự bị.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn T7 tham gia quân đội 1 năm 11 tháng.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn S3 có bố đẻ là thương binh.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn L có chú ruột là Liệt sỹ; chú ruột đã có thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong chống Mỹ cứu nước được Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến công giải phóng Hạng ba.
  • + Bị cáo Trần Văn T10 có bố đẻ đã có thành tích phục vụ trong Quân đội được Chủ tịch nước tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang Hạng nhì, Hạng ba.
  • + Bị cáo Trần Thanh T1 có ông tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ được tặng thưởng H4, huy chương kháng chiến.

Các bị cáo có địa chỉ rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giúp đỡ của gia đình và chính quyền địa phương cũng có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Theo qui định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000đồng. Xét thấy: Các bị cáo hiện tại không có việc làm và không có thu nhập ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • + Số tiền: 13.305.000 đồng, được xác định là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • + 01 (một) chiếc đệm (loại đệm gấp); 01 (một) chiếc kéo có lưỡi bằng kim loại, phần chuôi kéo bằng nhựa màu tím; 04 (bốn) quân vị hình tròn được cắt từ vỏ bao thuốc lá; 01 (một) chiếc đĩa sứ; 01 (một) chiếc bát sứ, bị vỡ thành nhiều mảnh đều đã qua sử dụng là vật chứng vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước; bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T3 là hộ cận nghèo, nên được miễn toàn bộ tiền án phí.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Thanh T1, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn T4, Trần Quang B, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn S3, Trần Văn T10, Nguyễn Hữu B1 phạm tội: “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

  1. Nguyễn Văn L 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.
  2. Nguyễn Văn T3 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.
  3. Nguyễn Văn T7 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.
  4. Trần Quang B 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.
  5. Nguyễn Văn S3 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

  1. Nguyễn Văn T4 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
  2. Nguyễn Hữu B1 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

  1. Trần Văn T10 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
  2. Trần Thanh T1 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn T7, Trần Quang B, Nguyễn Văn S3, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Hữu B1, Trần Văn T10, Trần Thanh T1 cho UBND xã T, huyện M, thành phố Hà Nội n¬i các bị cáo thêng tró gi¸m s¸t vµ gi¸o dôc trong thêi gian thö th¸ch b¶nn.

Trong trêng hîp ngêi ®îc hëng ¸n treo thay ®æi n«i c tró th× thùc hiÖn theo qui ®Þnh t'i kho¶n 1 §iÒu 69 cña LuËt Thi hµnh ¸n h×nh sù.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền: 13.305.000 đồng.
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chiếc đệm (loại đệm gấp); 01 (một) chiếc kéo có lưỡi bằng kim loại, phần chuôi kéo bằng nhựa màu tím; 04 (bốn) quân vị hình tròn được cắt từ vỏ bao thuốc lá; 01 (một) chiếc đĩa sứ; 01 (một) chiếc bát sứ, bị vỡ thành nhiều mảnh.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/5/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh).

- Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kèm theo Danh mục án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước. Bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T3 được miễn toàn bộ tiền án phí.

- Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện Mê Linh.
  • - Công an huyện Mê Linh.
  • - Chi cục THADS huyện Mê Linh
  • - TAND thành phố Hà Nội
  • - Bị cáo.
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Huy Duệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HSST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 80/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L cùng đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger