|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày: 24-6-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Giáp Văn Phẩm.
Ông Vũ Ngọc Côn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn bảo, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số : 85/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nịnh Văn Đ, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2002; quê quán: Xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Cao lan; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nịnh Văn T (đã chết) và bà Trương Thị T1; Vợ, con: Không có.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HSST ngày 09 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nịnh Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đ chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/11/2023;
Tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024; hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L (có mặt).
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trương Thị N, sinh năm 1991 (vắng mặt).
- Bà Lầu Nhúc C, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 28/3/2024, Nịnh Văn Đ đi bộ từ nhà đến thôn X, xã Đ, huyện L, mục đích xem ai có tài sản gì sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Đ phát hiện thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ROONEY, biển kiểm soat 98N1-9868 và 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh của ông Nguyễn Văn H dựng ở vườn vải của gia đình, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát không thấy người, Đ tiến lại gần dắt chiếc xe mô tô ra đường tỉnh lộ 291B thì nổ máy, điều khiển xe mô tô về nhà cất chiếc mũ bảo hiểm, thay quần áo rồi điều khiển xe mô tô đi đến xã B, huyện L chơi. Sau đó, Đ nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã mang chiếc xe mô tô, chiếc mũ bảo hiểm trộm cắp của ông H đến Công an xã Đ để đầu thú. Cùng ngày 28/3/2024, ông H có đơn gửi Công an xã Đ, Công an huyện L đề nghị giải quyết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu ROONEY, loại xe nữ, màu sơn nâu, biển số 98N1-9868, số khung: 014392, số máy: 1014392 trị giá 1.200.000 đồng, 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, loại nửa đầu, nhãn hiệu HONDA trị giá 30.000 đồng.”
Ngày 08/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ án.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 03/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng số 530/QĐ-CQĐT, trả lại cho ông Nguyễn Văn H.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bối thường gì thêm.
* Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 85/CT-VKS-LNg ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nịnh Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173-Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, bị cáo Nịnh Văn Đ đã khai nhận trưa ngày 28/3/2024, bị cáo đi bộ từ nhà đến khu vực xã Đ, mục đích để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, bị cáo thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu ROONEY cùng 01 chiếc mũ bảo hiểm để ngoài sân, không ai trông coi nên bị cáo đã dắt xe, nổ máy và điều khiển xe đi về nhà. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người này.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nịnh Văn Đ, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38-Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nịnh Văn Đ từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 29/3/2024). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn cho bị cáo Nịnh Văn Đ không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì thêm đối với đại diện Viện kiểm sát, không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của những người này và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292-Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Nịnh Văn Đ là người đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Khoảng 17 giờ ngày 28 tháng 3 năm 2024, Đ đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ROONEY, biển số 98N1-9868, số khung: 014392, số máy: 1014392 trị giá 1.200.000 đồng, 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, loại nửa đầu, nhãn hiệu HONDA trị giá 30.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 1.230.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173-Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173-Bộ luật Hình sự và bản
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[4] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị kết án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Về nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2022 đã bị Tòa án xét xử, kết án về tội “Trộm cắp tài sản”. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa được xóa án tích.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51-Bộ luật Hình sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, cần chấp nhận.
[8] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là đối tượng ham chơi, lười lao động, là người đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với hành vi, tính chất, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên cần chấp nhận.
[9] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5, Điều 173- Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản đáng giá, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[11] Về xử lý vật chứng: Đối với Chiếc xe mô tô nhãn hiệu ROONEY, loại xe nữ, màu sơn nâu, biển số 98N1-9868, số khung: 014392, số máy: 1014392, đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H là có căn cứ.
[12] Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn cho bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333-Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38-Bộ luật Hình sự; Điều 292; Điều 331, Điều 333- Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Nịnh Văn Đ 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 29/3/2024). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Miễn cho bị cáo Nịnh Văn Đ không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Văn Hiếu |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nịnh Văn Đ là người đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Khoảng 17 giờ ngày 28 tháng 3 năm 2024, Đ đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ROONEY, biển số 98N1-9868, số khung: 014392, số máy: 1014392 trị giá 1.200.000 đồng, 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, loại nửa đầu, nhãn hiệu HONDA trị giá 30.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 1.230.000 đồng.
