|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày: 23/04/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Sô Phép
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Hoài Khanh
Bà Đoàn Thị Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Danh Thị Sà Ron – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 155/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 327/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 và Thông báo mở phiên tòa số 11/2024/TB-TA ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Trần Thị H; Sinh ngày 05/8/1974 tại Rạch G, Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở hiện nay: Số nhà G đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T và bà Dương Thị N; Chồng: Mai Thanh T1 (đã ly hôn); Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 25/3/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích; Bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang tại ngoại.
2/ Lê Thị H1; sinh ngày 09/9/1983 tại A, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở hiện nay: Ấp X, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K và bà Phạm Thị Á; Chồng: Lê Huy D; Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án: Chưa; Tiền sự: Ngày 15/8/2022 bị Trưởng Công an thành phố R xử phạt 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa tiền sự; Bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang tại ngoại.
Các bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người chứng kiến: Tô Thanh Q, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà A đường C, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 05 phút ngày 30/01/2023 tại tổ A khu phố P, phường V, thành phố R, tỉnh kiên Giang, Công an phường V, thành phố R bắt quả tang Trần Thị H và Lê Thị H1 đang đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề, kiểm tra thu giữ của Trần Thị H gồm 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, số Imei 861063050701594, đã qua sử dụng, có chứa nội dung bán số đề, tiền Việt Nam 7.900.000 đồng; kiểm tra thu giữ của Lê Thị H1 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số Imei 357278099020456, đã qua sử dụng có chứa nội dung mua số đề, (bút lục số 38 – 40, 65).
Qua điều tra xác định Trần Thị H bắt đầu bán số đề từ ngày 28/01/2023, dựa trên kết quả sổ số của các Công ty sổ số kiến thiết M, hình thức bán số đề gồm số đầu là kết quả xổ số giải tám của đài đặt cược; số đuôi là hai số cuối của giải đặc biệt của đài đặt cược; bao lô 02 con số là hai số cuối của 15 lô các giải của đài đặt cược. Tỷ lệ thắng thua đối với số đầu, số đuôi, bao lô 02 con số, người mua 1.000 đồng thắng được 80.000 đồng; đối với người mua số đầu, số đuôi thì người mua một con số 1.000 đồng thì chỉ trả 1.000 đồng, đối với bao lô 02 con số thì người mua phải trả gấp 14 lần trên 15 lô. Người chơi sẽ trực tiếp đến nhà của H hoặc nhắn tin qua ứng dụng mạng xã hội Zalo để mua số, sau khi có kết quả sổ xố thì đến gặp H tính thắng thua và nhận tiền, từ thời gian bắt đầu bán số đề đến khi bị bắt quả tang thì H bị thua không thu lợi bất chính. Vào khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 30/01/2023 thì Trần Thị H đến nhà của chị T2 tại tổ A, khu phố P, phường V, thành phố R thì gặp Lê Thị H1, nên H1 có hỏi mua của H số đầu 23 các đài Đồng Tháp, Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi đài 200.000 đồng x 03 đài = 600.000 đồng; bao lô 02 con số 23 các đài Đồng Tháp, Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi đài 100.000 đồng x 14 lần = 1.400.000 đồng x 03 đài = 4.200.000 đồng; bao lô 02 con số 57 các đài Đồng Tháp, Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi đài 50.000 đồng x 14 lần = 700.000 đồng x 03 đài = 2.100.000 đồng; tổng số tiền H1 mua số đề của H là 6.900.000 đồng, mua bán số đề được nhắn qua ứng dụng Zalo, khi mua thì H1 dùng tài khoản tên “Tuy Duyên” nhắn qua tài khoản tên “CuBo” của H, sau đó H xác nhận bằng cách nhắn lại “ok”, H1 chưa đưa tiền cho H mà để khi xổ số mới tính thắng thua. Ngoài ra trong ngày 30/01/2023 Trần Thị H còn bán số đề cho những người khác qua ứng dụng mạng xã hội Zalo tên “anh đào tịnh tâm” số đầu các con số 11, 38 đài Đ được số tiền 40.000 đồng; qua Zalo tên “Phen” số đầu và bao lô các đài Đồng Tháp, Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh được số tiền 872.000 đồng, cũng chưa lấy tiền, khi bà H và H1 đang chờ kết quả sổ số thì bị bắt quả tang, (bút lục số 41 – 47, 61, 62, 67 – 78).
Đến ngày 02/02/2023, Trần Thị H và Lê Thị H1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố để điều tra.
Các bị cáo Trần Thị H và Lê Thị H1 đã khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Trần Thị H và Lê Thị H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”.
* Theo bản cáo trạng số: 167/CT.VKSRG ngày 23/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố các bị cáo Trần Thị H và Lê Thị H1, về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng theo Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Thị H và Lê Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị H1 mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệp Oppo, màu xanh, số I 861063050701594; 01 điện thoại đi động hiệu iphone màu xanh, số Imei 357278099020456, đã qua sử dụng.
Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 128/LNK-CSĐT-ĐTTH ngày 02/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu: Trần Thị H tiền Việt Nam 7.900.000 đồng.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay các bị cáo Trần Thị H và Lê Thị H1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Trần Thị H bắt đầu bán số đề cho các con bạc thông qua ứng dụng mạng xã hội Zalo từ ngày 28/01/2023, bán số đề với hình thức là số đầu, số đuôi, bao lô 02 con số, theo kết quả xổ số kiến thiết của các đài M, quá trình bán số đề không thu lợi bất chính. Đến ngày 30/01/2023, Trần Thị H bán số đề cho Lê Thị H1 với số tiền 6.900.000 đồng và cho những người khác với số tiền 912.000 đồng, tổng số tiền H bán số đề trong ngày là 7.812.000 đồng, khi H và H1 đang ở tổ A, khu phố P, phường V, thành phố R chờ kết quả xổ số thì bị bắt quả tang.
Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo Trần Thị H và Lê Thị H1 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân các bị cáo cũng nhận thức được rằng hành vi tham gia sát phạt đánh bạc là nhà nước nghiêm cấm. Các bị cáo chỉ vì ham mê cờ bạc, có máu đỏ đen nên đã vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo là hành vi xem thường pháp luật, không những xâm phạm trật tự công cộng mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Trong vụ án này bị cáo H là người trực tiếp bán số đề, tự chung tự chi và có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định; nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt; đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Riêng bị cáo H1 tham gia đánh bạc với hình thức mua số đề, hành vi không đáng kể, phạm tội lần đầu nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, giao bị cáo về địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm; tạo điều kiện cho bị cáo lao động lương thiện để sinh sống nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và theo các tài liệu, chứng cứ, lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập nên miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo H1.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Thị H: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lê Thị H1: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội khi đang mang thai; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh; 01 điện thoại đi động hiệu iphone màu xanh, đã qua sử dụng.
- Đối với tài sản không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã giao trả cho chủ sở hữu, theo quyết định xử lý vật chứng số 15/QĐ-CSĐT-ĐTTH, ngày 02/6/2023.
[6] Theo bản luận tội mà Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với những người mua số đề của bị cáo H thông qua mạng xã hội Zalo tên “Phen” và “anh đào tịnh tâm”, hiện đã bị xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thị H và Lê Thị H1, phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị H1 mức án 02 năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo H1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo H và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo H1.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệp Oppo, màu xanh, số I 861063050701594; 01 điện thoại đi động hiệu iphone màu xanh, số Imei 357278099020456, đã qua sử dụng, theo Quyết định chuyển vật chứng số 121/QĐ-VKS ngày 23/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thạch Sô Phép |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H mức án 06 tháng tù H1 02 năm cải tạo không giam giữ
